Tổng Quan Về Chính Sách Tài Khóa Và Chính Sách Tiền Tệ

Lâm Nguyễn
05/11/2014 - 22:34 73478     0

Chính phủ và Ngân hàng trung ương có hai công cụ quan trọng để điều hành nền kinh tế đó là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Nếu như được sử dụng đúng cách thì cả hai công cụ trên đều có thể đem lại những kết quả tương tự trong việc kích thích nền kinh tế và làm chậm lại khi kinh tế tăng trưởng nóng.

Tuy nhiên, vẫn có những ý kiến trái chiều về vấn đề công cụ nào sẽ hiệu quả hơn trong thời gian dài hạn và ngắn hạn.

Chính sách tài khóa chính là việc chính phủ sử dụng chi tiêu và nguồn thu thuế để tác động lên nền kinh tế. Sự kết hợp và tác động qua lại giữa chi tiêu chính phủ và nguồn thu ngân sách là một sự cân bằng dễ bị phá vỡ và đòi hỏi việc xác định thời điểm chính xác và một chút may mắn để đạt hiệu quả. Tác động trực tiếp và gián tiếp của chính sách tài khóa có thể ảnh hưởng đến chi tiêu cá nhân, đầu tư của doanh nghiệp, tỷ giá hối đoái, mức thâm hụt ngân sách và thậm chí là cả lãi suất, chỉ số thường được coi là liên quan đến chính sách tiền tệ nhiều hơn.

Chính sách tài khóa – Trường phái kinh tế học Keynes

Trường phái kinh tế học Keynes

Chính sách tài khóa thường gắn liền với trường phái Keynes, theo tên nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes. Những nghiên cứu chính của ông như “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” đã ảnh hưởng đến những tư tưởng mới lý giải về cách thức nền kinh tế hoạt động và vẫn được nghiên cứu cho đến ngày nay. Hầu hết lý thuyết của ông được phát triển trong thời kỳ Đại khủng hoảng. Đến nay lý thuyết của Keynes đã được dùng cũng như bị vận dụng sai không ít lần, bởi nó khá phổ biến và chỉ áp dụng đặc thù để giảm ảnh hưởng trong thời kỳ suy thoái.

Một cách ngắn gọn, học thuyết kinh tế trường phái Keynes dựa trên tư tưởng rằng sự chủ động từ chính phủ là cách duy nhất để chèo lái nền kinh tế. Điều này ngụ ý rằng chính phủ nên sử dụng quyền hạn của mình để tăng tổng cầu bằng cách tăng chi tiêu và tạo ra môi trường lưu thông tiền tệ dễ dàng, từ đó kích thích nền kinh tế, tạo ra công ăn việc làm và cuối cùng tăng thêm của cải trong xã hội. Phong trào dựa trên lý thuyết của Keynes cho rằng chính sách tiền tệ bản thân nó có những hạn chế trong việc giải quyết khủng hoảng tài chính, vì vậy đã tạo ra cuộc tranh luận giữa những nhà kinh tế theo trường phải Keynes và những người ủng hộ chính sách tiền tệ.

Chính sách tài khóa đã được vận dụng thành công kể cả trong suốt và sau thời kỳ Đại khủng hoảng nhưng học thuyết của Keynes đã bị hoài nghi vào những năm 80 sau một thời gian dài được ưa chuộng.

Người ủng hộ chính sách tiền tệ như Milton Friedman và người theo trường phái “trọng cung” cho rằng những động thái đang diễn ra của chính phủ sẽ chẳng thể cứu vãn đất nước thoát khỏi giai đoạn khủng hoảng khi mà mức GDP dưới trung bình ngày càng mở rộng, còn lãi suất thì bất ổn.

Một số tác dụng phụ

Cũng giống như chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa có thể được sử dụng để điều chỉnh sự mở rộng hoặc thu hẹp GDP, chỉ số thể hiện tăng trưởng kinh tế. Khi chính phủ sử dụng quyền hạn của mình để giảm thuế hay tăng chi tiêu đồng nghĩa chính phủ đang vận dụng chính sách tài khóa mở rộng. Nhìn bên ngoài, những nỗ lực mở rộng của chính phủ có vẻ chỉ mang lại hiệu quả tích cực bằng cách kích thích nền kinh tế nhưng hiệu ứng domino kéo theo lại mở rộng hơn thế nhiều. Khi tốc độ chi tiêu chính phủ nhanh hơn so với thu thuế, nợ sẽ tích lũy quá nhiều khi phát hành trái phiếu chịu lãi suất để tài trợ cho việc chi tiêu, từ đó dẫn tới gia tăng nợ quốc gia.

Khi chính phủ tăng vay nợ thông qua phát hành trái phiếu khi áp dụng chính sách tài khóa mở rộng, việc phát hành trái phiếu của chính phủ trên thị trường mở sẽ phải cạnh tranh với khu vực kinh tế tư nhân, nhóm đối tượng cũng muốn phát hành trái phiếu cùng thời điểm đó. Hiệu ứng được biết đến với tên gọi “chen lấn vay nợ” (crowding out) này có thể làm tăng lãi suất gián tiếp vì gia tăng cạnh tranh để giành nguồn vốn vay. Ngay cả nếu kích thích bằng cách tăng chi tiêu chính phủ ban đầu có thể có một số hiệu quả tích cực trong ngắn hạn, một phần tăng trưởng kinh tế này sẽ bị mất đi bởi chi phí vay sẽ tăng lên đối với những người đi vay, trong đó có chính phủ.

Một ảnh hưởng gián tiếp khác của chính sách tài khóa thường bị bỏ qua đó là khả năng các nhà đầu tư nước ngoài nỗ lực mua vào đồng đô la nội địa nhằm đầu tư vào trái phiếu nội địa trên thị trường mở giờ đây có lợi tức cao hơn. Đồng nội tệ mạnh lên có vẻ là một dấu hiệu tích cực về bề nổi, tùy thuộc vào mức độ biến động tỷ giá, nhưng nó có thể làm cho hàng hóa củanội địa trở nên đắt đỏ hơn khi xuất khẩu và các mặt hàng nhập khẩu nước ngoài thì rẻ hơn. Vì hầu hết người tiêu dùng thường coi giá là yếu tố quyết định trong hoạt động mua sắm, sự dịch chuyển từ tiêu dùng hàng ngoại thay vì hàng trong nước sẽ dẫn tới sự mất cân bằng tạm thời trong cán cân thương mại. Các kịch bản này cần được cân nhắc và dự đoán. Không dễ để dự đoán kết quả nào sẽ xảy ra và với mức độ ra sao bởi còn nhiều yếu tố khác như thảm họa thiên nhiên, chiến tranh v.v… có thể làm thị trường biến động.

Các biện pháp chính sách tài khóa cũng chịu tác động của độ trễ tự nhiên hoặc do phải trải qua nhiều khâu chính sách khác nhau. Từ góc độ dự báo, trong một thị trường hoàn hảo nơi các nhà kinh tế có khả năng dự báo tương lai đúng 100% thì chính sách tài khóa có thể được đưa ra ngay khi cần. Không may là với sự bất định và hay thay đổi vốn có của thị trường, hầu như các nhà kinh tế không thể dự báo chính xác những thay đổi trong ngắn hạn.

Chính sách tiền tệ - Cung tiền

Tiền tệ có thể được sử dụng để kích thích hoặc giảm tốc nền kinh tế nhưng phải dưới sự kiểm soát của ngân hàng trung ương với mục tiêu cuối cùng là giúp tiền lưu thông dễ dàng trên thị trường. Ban đầu những người theo thuyết kinh tế của Keyne không tin rằng chính sách tiền tệ có tác động lâu dài đối với nền kinh tế vì thứ nhất ngân hàng có quyền cho vay hoặc không cho vay số tiền dự trữ vượt mức trong tay với lãi suất thấp và thứ hai nhu cầu của người tiêu dùng đối với hàng hóa, dịch vụ không liên quan đến chi phí vốn để đạt được những hàng hóa đó. Tại những thời điểm khác nhau trong chu kỳ kinh tế, điều này có thể đúng hoặc không nhưng chính sách tiền tệ đã được chứng minh có một số ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế, thị trường cổ phiếu, trái phiếu.

Ví dụ điển hình là ở mỹ, Cục dự trữ liên bang nắm trong tay ba công cụ mạnh và tích cực sử dụng cả ba. Công cụ được sử dụng nhiều nhất là nghiệp vụ thị trường mở (OMO), được điều tiết hàng ngày. Nghiệp vụ này mua và bán trái phiếu Mỹ trên thị trường mở nhằm tăng hoặc giảm lượng tiền dự trữ trong ngân hàng đồng thời gây ảnh hưởng tới cung  tiền. Ngân hàng trung ương cũng có thể thay đổi quy định về dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại, và cách này cũng sẽ trực tiếp tăng hoặc giảm cung về tiền. Ngoài ra, ngân hàng trung ương có thể điểu chỉnh lãi suất chiết khấu – một công cụ liên tục nhận được sự chú ý từ truyền thông, những nhà dự báo, nhà đầu cơ. Thế giới thường xuyên chờ đợi thông báo từ Cục dự trữ liên bang Mỹ như thể là bất kỳ thay đổi nhỏ nào cũng sẽ có tác động trực tiếp đến nền kinh tế toàn cầu.

Lãi suất chiết khấu thường bị hiểu sai, nó không phải là lãi suất chính thức mà người tiêu dùng sẽ phải trả khi đi vay hoặc được nhận khi gửi tiết kiệm. Đây là lãi suất ngân hàng phải trả khi ngân vay trực tiếp từ ngân hàng trung ương nếu muốn tăng dự trữ. Tuy nhiên, quyết định của ngân hàng trưng ương ảnh hưởng đển toán bộ hệ thống ngân hàng và  sau cùng, đến chi phí mà người đi vay phải trả cũng như mức lãi được nhận đối với tài khoản tiền gửi. Về lý thuyết, việc giữ tỷ lệ chiết khấu thấp sẽ dẫn đến giảm dự trữ vượt mức mặt của ngân hàng và cuối cùng làm tăng cầu về tiền. Điều này đặt ra câu hỏi: Chính sách nào hiệu quả hơn – chính sách tài khóa hay chính sách tiền tệ?

Cuộc tranh luận này đã diễn ra sôi nổi hàng thập kỷ qua và câu trả lời là cả hai. Ví dụ, để thúc đẩy chính sách tài khóa trong thời gian dài 25 năm, nền kinh tế sẽ trải qua nhiều chu kỳ kinh tế. Ở điểm kết thúc của những chu kỳ đó, các tài sản thuộc nhóm cở sở hạ tầng, chẳng hạn các tòa nhà, cầu đường và những tài sản dài hạn khác sẽ vẫn tồn tại và hầu hết chúng là kết quả của chính sách tài khóa. Trong 25 năm đó, ngân hàng trung ương có thể đã can thiệp tới hàng trăm lần thông qua sử dụng các công cụ và có lẽ chỉ thành công trong một vài lần. Mặt khác, nếu chỉ sử dụng một công cụ chưa chắc đã là giải pháp tốt nhất bởi độ trễ của chính sách tài khóa. Chính sách tiền tệ cho thấy hiệu quả trong việc làm chậm lại kinh tế đang tăng trưởng nóng hơn mong muốn (lo sợ  lạm phát) nhưng hiệu ứng tương tự không đạt được khi chính phủ muốn mở rộng nền kinh tế với chính sách nới lỏng tiền tệ.

Lời kết

Mặc dù mỗi chính sách đều có ưu nhược điểm riêng nhưng chính phủ luôn mong muốn tìm ra giải pháp trung hòa, kết hợp các mặt của cả hai chính sách để giải quyết các vấn đề kinh tế. Ngân hàng trung ương có thể được quan tâm nhiều hơn bởi những nỗ lực và quyết định có thể làm rung chuyển mạnh thị trường chứng khoán toàn cầu của họ luôn được mọi người quan tâm. Dù luôn luôn có độ trễ nhưng chính sách tài khóa dường như đem lại hiệu quả cao hơn trong dài hạn và chính sách tiền tệ thì lại có được những thành công trong ngắn hạn.

 

Lâm Nguyễn