Tiền Tệ Và Chính Trị

Trung Trần
11/11/2017 - 07:00 1011     0

Cuộc hôn nhân giữa tiền tệ và chính trị ở Mỹ bắt nguồn từ những ngày nước Mỹ còn là thuộc địa. Năm 1759, George Washington đã dùng rượu, tiền và một tay chơi quần vợt để cải thiện cuộc tranh cử của mình tới hạ viện của Burgesses. Trong thời gian này có một sự thật được ngầm hiểu là những người có tiền và học vấn thường nắm các vị trí lãnh đạo trong chính phủ. Dần già, quá trình chính trị thay đổi và chính chị trở thành một công việc kinh doanh lớn. Bài viết này đề cập tới quá trình của các sự kiện cũng như những điều luật đã cấu thành, và ảnh hưởng tới môi trường chính trị hiện nay ở Mỹ.

 

Lịch sử

Trong những ngày đầu tiên của nền cộng hòa, chính trị như chúng ta biết ngày nay không hề tồn tại. Không có những chiến dịch vận động tranh cử bài bản, cùng với đó, quá trình chính trị cũng rất sơ khai và không tốn kém. Hình thức tổ chức tổng tuyển cử liên bang cũng rất khác so với hiện nay. Ví dụ như, thượng nghị sĩ vẫn được các cơ quan lập pháp của bang lựa chọn cho đến khi điều này được sửa đổi trong hiến chương (the Seventeenth Amendment) vào năm 1913.

Ở cấp tổng thống, một luật bất thành văn là nếu như các ứng viên phải đi vận động tranh cử thì người đó đang tự hạ thấp bản thân cũng như cơ quan mình. Triết lý này mạnh ở những ngày đầu tiên, nhưng dần già, cùng với sự lên ngôi của các đảng phái khác nhau và sự khởi đầu của cuộc Cách mạng công nghiệp thì điều này đã bắt đầu thay đổi. Khi mà thông tin liên lạc và vận tải hàng hóa được cải thiện, những chuyển biến trong kinh tế, xã hội cũng giúp cho nhiều người hơn tham gia vào quá trình vận động chính trị. Công tác thuyết phục của các chính trị gia phải đi nhảy từ tầm các cá nhân sang tầm đám đông trong những buổi mít-tinh, họp kín, hay hội nghị.

Vào những năm đầu của thế kỉ 19, một chiến dịch của quốc hội ở vùng Trung Tây (Midwest) hoặc vùng Trung-Đại Tây Dương (Mid-Atlantic) có thể tốn tới $4.000. Chi phí này thường ít hơn ở New England và phía Nam. Khoản tiền lớn được dùng ở cấp độ liên bang, nơi mà số tiền với năm con số được dùng vào các quảng cáo trên báo, tờ rơi, và các ấn phẩm khác của chiến dịch. Khẩu ngữ, khẩu hiệu, bài hát, mũ nón, và những buổi thuyết giáo tất cả đều được dùng để nắm bắt trí tưởng tượng của cử chi.

Những ủy ban chính trị quốc gia dùng tới $100,000 cho những chiến dịch tranh cử tổng thống vào giữa những năm 1800. Khi mà tầm hoạt động và chi phí để vận hành chính phủ gia tăng, ngày càng có nhiều nhà kinh doanh bị thu hút bởi nó như là một phương thức để mở rộng những lợi ích kinh doanh của họ. Sự bảo trợ cho một chính trị gia thể hiện được lòng trung thành cũng như nó đại diện cho việc trao đổi tiền tài trợ để nhận sự ưu ái về mặt chính trị. Nếu như muốn giữ được công việc của mình thì họ sẽ phải liên tục đóng góp cho những chiến dịch tranh cử.

Vụ ám sát tổng thổng Garfield vào năm 1881 đã đưa đến một sự thay đổi lớn trong bầu không khí chính trị và sau 2 năm là sự thông qua của Pendleton Civil Service Reform Act (tạm dịch là: Đạo luật Pendleton về Cải cách Dịch vụ dân sự). Đạo luật này yêu cầu chính phủ liên bang, phải bị kiểm duyệt và kiểm tra một cách ngặt nghèo để có thể dùng năng lực của mình để thăng tiến về mặt chính chị chứ không phụ thuộc thuần túy vào các mối quan hệ chính trị hay sự hỗ trợ tài chính.

Chính trị trong đời thực

Khi mà tiền chi phối quá trình chính trị, lượng tiền cần để giành chiến thắng trong một cuộc bầu cử cũng leo thang. Nhằm ngăn chặn xu thế này, một vài cuộc cải cách đã được thực hiện nhưng lại đưa đến những hiệu ứng phụ không thể lường được. Ví dụ khi vòng bầu cử sơ bộ lần đầu tiên được thực hiện, công tác này được thiết kể để tước đi quyền lực từ những chính khách tay trong, và trao lại quyền này cho những người cử tri thông thường. Tuy nhiên, quá trình đó đã kéo dài chu kì bầu cử và làm gia tăng đáng kể nhu cầu về kinh phí.

Những cải tổ vẫn chưa thể tạo được những hiệu ứng như kì vọng trong việc cắt giảm chi phí duy trì văn phòng do các ứng cử viên luôn tìm cách lách luật. Kế toán "sáng tạo" (creative accounting) và "tiền mềm" (soft money) là hai công cụ hỗ trợ các đảng phái đối phó với những quy định về tranh cử.

Công tác gây quỹ "tiền mềm", không giống như với tiền cứng, không chịu những luật lệ ngặt nghèo của luật tài chính tranh cử, bởi vì nó không được kiểm soát bởi các ứng viên đang tranh cử hay ban bệ của họ. Điều này tạo ra cơ hội cho những người đài thọ thuộc các tổ chức khác nhau mà đáng lẽ ra họ không được phép nhúng tay vào công tác tài chính của một chiến dịch tranh cử. Nhóm này bao gồm những công đoàn, tập đoàn, và những cá nhân giàu có mà bình thường sẽ không có cơ hội để được đài thọ.

Cơ quan PAC (Political Action Committees) đại diện cho lợi ích về lao động, kinh doanh, và tư tưởng, có thể được thành lập, gây quỹ để hỗ trợ trong công tác lựa chọn hay đánh bại những ứng viên đã đươc nhắm tới từ trước. Những cơ quan này phải đăng kí với Ủy ban bầu cử liên bang, có thể ủng hộ 5000 đô la với mỗi cuộc bầu cử. Họ cũng có thể quyên góp $15,000 cho bất kì một đảng nào và hàng năm được phép nhận từ một cá nhân hay một tổ chức một khoản tiền tối đa là $5,000.

Những hình tượng và lùm xùm chính trị

Vào thời kì hậu cải cách, người ta kì vọng là "những quý ông hào phóng" này sẽ dùng chính tiền của mình trong chiến dịch tranh cử. James Madison đã thất bại trong việc kiếm một chiếc ghế đại diện cho Virginia bởi vì ông không nghĩ rằng tiền là cách phù hợp để làm chính trị.

Abraham Lincoln đã dùng sự bảo trợ của mình để đổi lấy hàng triệu đô la trong những hợp đồng với những nhà buôn miền bắc trong Cuộc nội chiến vào tay những nhà buôn miền Bắc. Những doanh nghiệp miền Bắc này ngược lại phải đóng góp vào những chiến dịch của ông đồng thời lót tay 5% tiền lương của những người đương nhiệm. Trong cuộc tranh cử thứ hai của ông, những đại diện của ông Lincoln được biết đến với việc "vung tiền như nước" nhằm dắt lối những lá phiếu về phía Lincoln.

Xuyên suốt quá trình xây dựng tuyến đường sắt xuyên lục địa, công ty Union Pacific Railroad đã trao cho những chính trị gia có sức ảnh hưởng lớn một lượng cổ phiếu giảm giá; ở chiều ngược lại, họ sẽ tiếp tục có sự ủng hộ cho việc có thêm tài trợ cho dự án. Được biết đến với tên là "the Credit mobilier Scadal" vào năm 1872 - là một trong những vụ được phanh phui bởi nghị viên James A. Garfield của bang Ohio, người sau này trở thành Tổng thống.

Tammany Hall( hay Tammany Society) là một bộ máy của đảng dân chủ kiểm soát nền chính trị ở New York đến tận những năm 30 của thế kỉ 20. Sức ảnh hưởng của nó bắt đầu với những hợp đồng với chính phủ, những khoản lót tay, hay sự bảo hộ, cũng như quyền lực của những lãnh đạo tham nhũng như là William "Boss" Tweed.

Khi Standard Oil bơm $250,000 vào chiến dịch của William McKinley, khoản đoán góp của công ty này có thể ví như chi trả một khoản bảo hiểm. Trong một sự cố vô cùng thú vị, bộ trưởng nội vụ Albert Fall đã bị cáo buộc nhận tiền hối lộ từ những công ty dầu, để đổi lại mức lãi thuê thấp cho những khoản dự trữ dầu ở Teapot Dome. Vụ bê bối này đã làm phương hại tới danh tiếng của tổng thống đương nhiệm Warren Harding.

Bang Louisiana nổi tiếng vì tham nhũng dưới thời cựu Thống đốc Huey "Kingfish" Long. Con trai ông - là Russell đồng thời là cựu thượng nghị sĩ, đã từng nói: "Ranh giới giữa một khoản đóng góp lớn cho một chiến dịch vận động và hành vi hối lộ chỉ mong manh như một sợi tóc". Những vụ scandal như thế này vẫn tiếp diễn cho tới bây giờ, với số tiền lót tay và ngân sách ngày càng tăng.  

Luật Tài chính Tranh cử

Dưới đây là tóm tắt về các luật chính và phán quyết tòa án đã đề cập đến về việc gây quỹ và tài trợ cho tranh cử:

  • 1907 - Đạo luật Tillman: Các ngân hàng quốc gia và các công ty bị cấm tham gia đóng góp vào bất kỳ cuộc bầu cử nào cho chức vụ chính trị.
  • 1910 - Đạo luật công khai: Các ủy ban quốc gia và các bên yêu cầu phải nộp báo cáo chiến dịch cho tất cả các khoản thu và chi.
  • 1911 - Đạo luật công khai được sửa đổi: Báo cáo bắt buộc của ứng cử viên trong tất cả các cuộc bầu cử liên bang và thiết lập hạn mức chi tiêu là 5.000 đô la cho một ghế Hạ viện và 10.000 đô la cho mỗi ghế Thượng viện.
  • 1921 - Newberry v. Hoa Kỳ: Toà án Tối cao đã đánh giá các khoản chi tiêu được quy định trong Đạo luật Công khai, tuyên bố rằng Quốc hội có quyền điều chỉnh các cuộc bầu cử không bao gồm các cuộc đề cử và bầu cử sơ bộ đảng.
  • 1925 - Đạo luật liên bang về tham nhũng: Mở rộng phạm vi đối với các đảng và các ủy ban bầu cử ở nhiều bang khác nhau, và thiết lập khung báo cáo về các khoản thu và chi. Đồng thời tăng giới hạn chi tiêu cho chiến dịch tranh cử Thượng viện lên đến 25.000 đô la.
  • 1939 - Đạo luật Hatch: Ngăn cấm nhân viên liên bang thu các khoản quyên góp cho chiến dịch tranh cử và tham gia vào chính trị. Đạo luật này cũng đặt giới hạn đóng góp cá nhân cho chiến dịch tranh cử liên bang ở mức 5.000 đô la và chi tiêu cho một đảng lớn là 3 triệu đô la mỗi năm.
  • 1943 - Đạo luật Smith-Connally: Các công đoàn lao động bị cấm tham gia đóng góp vào các chiến dịch tranh cử liên bang.
  • 1941 - Hoa Kỳ v. Classic: Tòa án tối cao phán quyết rằng Quốc hội có quyền điều chỉnh và hạn chế chi tiêu cho các cuộc bầu cử sơ bộ trong trường hợp luật pháp của tiểu bang đã xem những cuộc bầu cử sơ bộ này là một phần của quá trình bầu cử và có thể quyết định một cách hiệu quả kết của cuộc bầu cử.
  • 1943 - Đạo luật Tillman mở rộng: Các khoản đóng góp bị cấm từ các tập đoàn và công đoàn, điều này đã dẫn đến việc thành lập các PACs.
  • 1971 - Đạo luật Chiến dịch bầu cử Liên bang (FECA): Thiết lập các yêu cầu công bố thông tin cho các ủy ban chính trị và ứng cử viên liên bang. Đặt các giới hạn về số tiền mà một ứng viên có thể chi cho các phương tiện truyền thông và chiến dịch vận động tranh cử.
  • 1974 - FECA sửa đổi: Thành lập Ủy ban Bầu cử Liên bang (FEC) và một hệ thống tài chính công tự nguyện cho các cuộc bầu cử tổng thống, đồng thời điều phối việc tài trợ cho các cuộc bầu cử sơ bộ của tổng thống. Trong lần sử đổi này, FECA cũng thay thế giới hạn chi tiêu phương tiện truyền thông bằng giới hạn về tổng chi của chiến dịch cho cả cuộc bầu cử Quốc hội và bầu cử Tổng thống. Thiết lập giới hạn đóng góp liên bang cho các cá nhân, ủy ban chính trị và các đảng quốc gia.
  • 1975 - FEC cho phép các PAC của doanh nghiệp thu hút các cổ đông và nhân viên.
  • 1976 - Buckley v. Valeo: Tòa án tối cao phán quyết rằng tiền cũng giống như một phương thức để bày tỏ quản điểm và mọi người đều có quyền tự do ngôn luận. Điều này được bảo vệ bởi Điều 1 trong Hiến Pháp; do đó giới hạn chi tiêu do đó là bất hợp lý. Chỉ những quảng cáo ủng hộ ứng cử viên mới phải tuân theo quy định. Giới hạn chi tiêu có thể áp dụng cho những ứng cử viên nhận tài chính công.
  • 2002 - Đạo luật Cải cách tranh cử Bipartisan (McCain-Feingold): Tăng mức đóng góp cá nhân từ $ 1,000 đến $ 2,000 với điều chỉnh lạm phát. Đạo luật này loại bỏ các khoản đóng góp tiền mềm cho các đảng quốc gia, đồng thời các công ty cũng như công đoàn bị cấm thanh toán cho các ứng cử viên ứng cử liên bang trong vòng 30 ngày kể từ ngày bầu cử sơ bộ hoặc 60 ngày tính từ cuộc tổng tuyển cử.
  • 2010 - Uỷ ban Bầu cử Liên bang Hoa Kỳ v. Ủy ban Liên bang: Tòa án Tối cao đã phán quyết rằng các hạn chế về tài trợ của các chương trình phát thanh chính trị độc lập trong các cuộc bầu cử ứng cử viên, vi phạm điều 1 trong Hiến Pháp.

Bài học

Chúng ta có thể thấy cuộc hôn nhân giữa tiền bạc và chính trị nó thường diễn ra ở cấp cao nhất. Trong một ví dụ mà mọi người cùng biết đến, gia đình Clintons bán vé ở qua đêm ở căn hộ Lincoln với giá khởi điểm là $100,000/một đêm. Họ cũng tiến hành 98 cuộc gặp mặt Nhà Trắng, khi mà $50,000 sẽ đem lại cho bạn ba cái bánh ngọt kiểu Đan Mạch cùng một tách cà phê.

Không thể tách rời tiền tệ ra khỏi chính trị, do bản thân tiền được bảo vệ theo hiến pháp được khẳng định bởi Toà Tối cao. Nếu không có các chính trị gia không tự đứa ra giới hạn, thì một chiếc ghế trong bộ máy chính trị sẽ vẫn tiếp tục leo thang. Có một sự thật là khi nói về chính trị là người ta sẽ nói về quyền lực, và có tiền thì mới mua được quyền. Tiền nhất định phải đến từ một nơi nào đó nhưng những nỗ lực để kiểm soát nó hầu hết đều bất thành, hoặc chưa được thi hành hoặc đã bị bác bỏ bởi Tòa án Tối cao.

 

 

Nguồn : Theo SAGA.VN
Trung Trần