Passive Investing / Chiến Lược Đầu Tư Thụ Động

Định nghĩa

Chiến lược đầu tư thụ động là chiến lược đầu tư trong đó nhà quản lý quĩ cố gắng đưa ra càng ít quyết định đầu tư càng tốt để giảm thiểu chi phí giao dịch, bao gồm cả thuế thu nhập tài chính.

Saga giải thích

Một chiến lược đầu tư phổ biến là mô phỏng danh mục đầu tư của một chỉ số chứng khoán nổi tiếng nào đó, các quĩ đầu tư kiểu này gọi là các quĩ đầu tư theo chỉ số chứng khoán - Index fund. Đặc tính của chiến lược đầu tư thụ động được đúc kết trong 1 câu chỉ đạo đối với các nhà quản lý quỹ: "Đừng có làm gì cả, hãy cứ ngồi yên đấy thôi!". Từ đặc điểm này có thể thấy rõ, chiến lược đầu tư thụ động hoàn toàn ngược lại với chiến lược đầu tư chủ động.

Chiến lược đầu tư thụ động được sử dụng phổ biến nhất ở thị trường cổ phiếu, trong đó các quĩ đầu tư chỉ số chứng khoán mô phỏng theo các chỉ số chứng khoán lớn như Dow Jones, S&P 500. Ngoài ra, chiến lược này cũng được sử dụng đối với các loại hình đầu tư khác như trái phiếu, hàng hoá hay các hedge fund. Ngày nay có vô vàn các chỉ số chứng khoán trên thế giới, và hàng ngàn quĩ đầu tư theo chỉ số chứng khoán hiện đang xây dựng danh mục đầu tư mô phỏng theo những chỉ số này. Một trong những quĩ tương hỗ lớn nhất thế giới, Vanguard 500, cũng là một quĩ đầu tư thụ động.

Với rất nhiều nhà đầu tư, khái niệm đầu tư thụ động khá là lạ lẫm. Nó dựa trên cơ sở những quan điểm chủ yếu sau trong kinh tế học tài chính sau:

  1. Về lâu về dài, mỗi nhà đầu tư trung bình đều có kết quả đầu tư thuần (chưa trừ chi phí giao dịch) tương đương với bình quân thị trường. Do đó, càng giảm được chi phí giao dịch bao nhiêu thì nhà đầu tư càng có lợi bấy nhiêu.
  2. Giả định rằng thị trường hoạt động hiệu quả, có nghĩa là mức giá cân bằng trên thị trường sẽ phản ánh một cách toàn diện tổng thể các thông tin thị trường, do vậy không thể nào "vượt mặt thị trường" bằng chiến lược đầu tư chủ động, vốn dựa trên việc khai thác những chỗ kém hiệu quả của thị trường.
  3. Vấn đề giữa người uỷ thác đầu tư và người đại diện: một nhà đầu tư (người uỷ thác) cấp tiền cho một nhà quản lý danh mục đầu tư (người đại diện) phải cho nhà quản lý những quyền ưu tiên nhất định để nhà quản lý điều hành danh mục đầu tư phù hợp với yêu cầu về rủi ro/lợi nhuận của nhà đầu tư, đồng thời nhà đầu tư cũng phải giám sát chặt chẽ hoạt động của nhà quản lý danh mục đầu tư.

Thị trường theo chiều giá lên trong thập niên 1990 đã giúp kích thích tăng trưởng mang tính hiện tượng của các danh mục đầu tư theo chỉ số chứng khoán. Các nhà đầu tư đã thu được lợi nhuận tuyệt đối chỉ đơn giản bằng cách rót tiền vào các danh mục đầu tư chuẩn hoá theo các chỉ số chứng khoán lớn trên thị trường như S&P 500, Russell 3000, hay Wilshire 5000.
Ở Mỹ, các quĩ đầu tư theo chỉ số chứng khoán đều "vượt mặt" đa số các quĩ đầu tư chủ động, đặc biệt khi mà mức phí họ thu thấp hơn nhiều so với các quĩ đầu tư chủ động. Thu nhập sau thuế của các quĩ này cũng cao hơn nhiều so với các quĩ đầu tư chủ động.

Một vài nhà quản lý quĩ đầu tư chủ động có thể thu được kết quả đầu tư cao hơn kết quả tăng trưởng của chỉ số chứng khoán trong một vài năm nhất định, thậm chí là ổn định trong nhiều năm liên tiếp. Tuy nhiên, các nhà đầu tư nhỏ vẫn luôn băn khoăn rằng bao nhiêu % trong sự thành công đó là do kĩ năng, bao nhiêu % là do may mắn, và nên đặt niềm tin vào những nhà quản lý quĩ nào.




Góp ý