Coupon (Bond) / Trái Tức

Định nghĩa

Trái tức là tiền lãi công bố đối với các loại trái phiếu khi nó được phát hành. Thông thường trái tức được thanh toán theo định kỳ 6 tháng.

Trái tức thường được thể hiện dưới dạng tỉ suất trái tức, giống như lãi suất cho vay. Ví dụ: một trái phiếu $1000 với tỉ suất trái tức 7% sẽ nhận được $70 mỗi năm.
  
Từ "coupon", nghĩa nguyên gốc là "cuống phiếu", vì vào thời kỳ đầu, trái phiếu phát hành ra thường có các cuống phiếu kèm theo tương ứng với kì trả trái tức. Những người nắm trái phiếu có thể xé cái cuống phiếu ấy ra để đi đổi lấy tiền lãi. Vì vậy mới xuất hiện một cụm từ "coupon clipper" - người cắt cuống phiếu - chỉ những người sở hữu trái phiếu. Ngày nay thì phương pháp này đã không còn được sử dụng, thay vào đó là các bản ghi điện tử.

Trên tờ trái phiếu Mecca Tempe kì hạn 20 năm phát hành năm 1944 có đến 40 chiếc cuống phiếu. Với tỉ suất trái tức 5%/năm, mỗi tờ cuống phiếu ấy có giá trị $2.5 vào ngày đáo hạn in trên đó. Tuy nhiên, những tờ cuống phiếu này chưa bao giờ được cắt ra khỏi tờ trái phiếu vì công ty phát hành đã bị vỡ nợ trong cuộc Đại suy thoái. Tòa nhà được xây dựng từ số tiền huy động bị thành phố New York tịch thu để bù vào tiền thuế, và được đặt lại tên là Tòa nhà Trung tâm Thành phố New York. Những tờ cuống phiếu này ngày nay không còn chút giá trị gì về mặt kinh tế nhưng hay được sử dụng mang tính biểu trưng trong các tranh ảnh liên quan đến chứng khoán.

Người cầm giữ trái phiếu, tuy không phải lúc nào cũng là người cho vay chính thức nhưng lại là chủ nợ thực tế xét trên quan điểm anh ta phải bỏ tiền ra để có trái phiếu đó. Trái tức chính là phần bù đắp cho việc anh ta cho người khác sử dụng số tiền của mình. Vì vậy trái tức luôn luôn tồn tại và gắn liền với trái phiếu.

Tuy nhiên, không phải loại trái tức nào cũng thể hiện rõ ràng như một khoản tiền nhận được định kì. Trong trường hợp trái phiếu zero coupon, trái tức lại tồn tại dưới dạng ẩn. Thay vì được chi trả trái tức định kỳ, người mua trái phiếu zero coupon sẽ được hưởng một mức giá chiết khấu thấp hơn mệnh giá. Phần chênh lệch ấy chính là trái tức chi trả cho người nắm trái phiếu khi đáo hạn.




Góp ý