Thị trường vốn vay

Sau khi thảo luận về một số định chế tài chính quan trọng trong nền kinh tế Mỹ và vai trò kinh tế vĩ mô của chúng, chúng ta có thể xây dựng một mô hình về thị trường tài chính. Mục tiêu của chúng ta khi xây dựng mô hình này là lý giải xem thị trường tài chính gắn tiết kiệm với đầu tư của nền kinh tế như thế nào. Mô hình này cũng đem lại cho chúng ta một công cụ để phân tích ảnh hưởng của các chính sách mà chính phủ thực hiện tới tiết kiệm và đầu tư.

Để đơn giản hóa vấn đề, chúng ta hãy giả định rằng nền kinh tế chỉ có một thị trường tài chính, gọi là thị trường vốn vay. Mọi người tiết kiệm đều đến thị trường này để gửi tiền tiết kiệm của họ và mọi người đi vay đều đến thị trường này để vay tiền. Như vậy, thuật ngữ vốn vay được dùng để chỉ mọi khoản thu nhập mà dân cư đã quyết định tiết kiệm và cho vay, chứ không phải để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cá nhân của họ. Trong thị trường vốn vay chỉ có một lãi suất; nó vừa là lợi tức của tiết kiệm, vừa là chi phí của tiền vay.

Dĩ nhiên giả định chỉ có một thị trường tài chính duy nhất không hoàn toàn thực tế. Như chúng ta đã thấy, nền kinh tế có nhiều loại định chế tài chính. Nhưng như chúng ta đã thảo luận trong chương 2, nghệ thuật thiết lập mô hình kinh tế là đơn giản hóa thế giới để lý giải nó. Để phục vụ cho mục đích hiện tại, chúng ta bỏ qua sự đa dạng của các định chế tài chính và giả định nền kinh tế chỉ có một thị trường tài chính duy nhất.

Cung và cầu về vốn vay

Giống như các thị trường khác trong nền kinh tế, thị trường vốn vay bị chi phối bởi cung và cầu. Do đó để hiểu thị trường vốn vay vận hành như thế nào, trước hết chúng ta xem xét nguồn gốc của cung và cầu trên thị trường này. Cung về vốn vay bắt nguồn từ những người có một số thu nhập dôi ra mà họ muốn tiết kiệm và cho vay. Họ có thể cho vay trực tiếp, chẳng hạn khi một hộ gia đình mua trái phiếu của một công ty, hoặc gián tiếp, ví dụ một hộ gia đình gửi tiền vào ngân hàng, sau đó ngân hàng sử dụng khoản tiền đó để cho vay lại. Trong cả hai trường hợp, tiết kiệm là nguồn cung về vốn vay.

Cầu về vốn vay bắt nguồn từ các hộ gia đình và các doanh nghiệp muốn vay tiền để đầu tư. Nhu cầu này bao gồm các hộ gia đình mua nhà theo hình thức trả góp. Nó cũng bao gồm các doanh nghiệp vay tiền để mua thiết bị mới hay xây dựng nhà máy. Trong cả hai trường hợp, đầu tư là nguồn gốc làm phát sinh nhu cầu về vốn vay.

Hình 1. Thị trường vốn vay. Lãi suất trong nền kinh tế điều chỉnh để cân bằng cung và cầu về vốn vay. Cung về vốn vay bắt nguồn từ tiết kiệm quốc dân, bao gồm cả tiết kiệm tư nhân và tiết kiệm của chính phủ. Cầu về vốn vay bắt nguồn từ các doanh nghiệp và hộ gia đình muốn vay tiền để đầu tư. Ở đây lãi suất cân bằng là 5%, còn cả lượng cung và lượng cầu về vốn vay đều bằng 1.200 tỷ đô la Mỹ.

Lãi suất là giá của một khoản vay. Nó biểu thị lượng tiền mà người vay trả cho khoản vay và lượng tiền mà người cho vay nhận được từ khoản tiết kiệm của họ. Bởi vì lãi suất cao làm cho việc vay tiền trở nên tốn kém hơn, nên lượng cầu về vốn vay giảm khi lãi suất tăng. Tương tự, lãi suất cao làm cho tiết kiệm trở nên hấp dẫn hơn, lượng cung về vốn vay tăng khi lãi suất tăng. Nói cách khác, đường cầu về vốn vay dốc xuống và đường cung về vốn vay dốc lên.

Hình 1 biểu thị mức lãi suất làm cân bằng cung và cầu về vốn vay. Tại trạng thái cân bằng, lãi suất bằng 5%, lượng cung và lượng cầu về vốn vay đều bằng 1.200 tỷ đô la Mỹ. Quá trình điều chỉnh của lãi suất đến mức cân bằng xảy ra vì những lý do thông thường. Nếu lãi suất thấp hơn mức cân bằng, lượng cung về vốn vay nhỏ hơn lượng cầu về vốn vay. Sự thiếu hụt vốn vay khuyến khích những người cho vay tăng lãi suất. Ngược lại, nếu lãi suất cao hơn mức cân bằng, lượng cung về vốn vay cao hơn lượng cầu về vốn vay. Khi những người cho vay cạnh tranh nhau để giành giật số người đi vay có hạn, lãi suất sẽ giảm. Bằng cách này, lãi suất tiến dần đến mức cân bằng mà tại đó cung và cầu về vốn vay đúng bằng nhau.

Hãy lưu ý là các nhà kinh tế phân biệt giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế. Lãi suất danh nghĩa là lãi suất mà chúng ta thường sử dụng để ghi chép, đó chính là thu nhập bằng tiền từ tiết kiệm và chi phí bằng tiền trả cho các khoản vay. Lãi suất thực tế là lãi suất danh nghĩa đã loại trừ lạm phát; nó bằng lãi suất danh nghĩa trừ tỷ lệ lạm phát. Vì lạm phát làm tiền giảm giá trị theo thời gian, nên lãi suất thực tế phản ánh chính xác hơn thu nhập thực tế từ tiết kiệm và chi phí thực tế từ hoạt động vay tiền. Do đó, cung và cầu về vốn vay phụ thuộc vào lãi suất thực tế, chứ không phải lãi suất danh nghĩa và trạng thái cân bằng trong hình 1 cần được hiểu là quyết định lãi suất thực tế trong nền kinh tế. Khi nói đến lãi suất trong phần còn lại của chương này, chúng ta cần nhớ là đang đề cập tới lãi suất thực tế.

Mô hình cung và cầu về vốn vay cho thấy thị trường tài chính hoạt động hoàn toàn tương tự như các thị trường khác trong nền kinh tế. Ví dụ trong thị trường sữa, giá sữa điều chỉnh sao cho lượng cung và lượng cầu về sữa bằng nhau. Bằng cách này, bàn tay vô hình phối hợp hành vi của nông dân cung ứng sữa và những người uống sữa. Một khi đã nhận thức được
rằng tiết kiệm biểu thị cung về vốn vay và đầu tư biểu thị cầu, chúng ta cũng hiểu được bàn tay vô hình phối hợp tiết kiệm và đầu tư như thế nào. Khi lãi suất điều chỉnh để cân bằng cung và cầu trên thị trường vốn vay, nó phối hợp hành vi của những người muốn tiết kiệm (người cung về vốn vay) và hành vi của những người muốn đầu tư (người có cầu về vốn vay).

Bây giờ chúng ta có thể sử dụng phân tích này về thị trường vốn vay để phân tích ảnh hưởng của các chính sách khác nhau mà chính phủ thực hiện đối với tiết kiệm và đầu tư trong nền kinh tế. Vì mô hình này bao gồm cung và cầu trong một thị trường cụ thể, nên chúng ta phân tích mỗi chính sách theo ba bước sau. Một là, chúng ta phải xác định xem chính sách ảnh hưởng đến đường cung hay đường cầu. Hai là, chúng ta phải xác định hướng dịch chuyển. Ba là, chúng ta sử dụng đồ thị cung - cầu để biểu thị sự thay đổi trạng thái cân bằng.

Nguồn : Principles of Economics

Saga App

Saga App