Tan Vỡ Chuỗi Cung Ứng: Tử Huyệt Của Nền Kinh Doanh

13/02/2015 - 22:30 4177     0

Cách tiếp cận chuỗi cung ứng một mặt giúp việc kinh doanh hiệu quả hơn; mặt khác, giúp các doanh nghiệp nhỏ tìm ra chỗ đứng tối ưu để tồn tại trong thị trường khu vực và toàn cầu. Cho đến nay, ở Việt Nam, cách tiếp cận theo chuỗi cung ứng vẫn chưa được áp dụng một cách có hệ thống trong quản lý kinh tế của Nhà nước cũng như trong hoạch định chiến lược kinh doanh của tư nhân. Điều này đã, đang và sẽ dẫn đến những thiệt hại lớn về kinh tế, kinh doanh, đặc biệt trong thị trường mở và toàn cầu hóa  như ngày nay.

Hiện tượng và phân tích

Trước đây, các ngành sản xuất - chế biến ở Việt Nam bị chặn ở đầu ra do không bán, xuất khẩu được sản phẩm. Nguyên nhân chủ yếu là do giá thành quá cao so với thị trường, ví dụ trong các ngành công nghiệp ô tô, điện tử. Gần đây, các ngành sản xuất - chế biến ở Việt Nam lại bị chặn thêm ở đầu vào vì mua không được nguyên liệu trong nước, ví dụ như các ngành chế biến thủy sản, rau hoa quả, hạt tiêu,...

Không mua được nguyên vật liệu cho sản xuất có nghĩa khâu sản xuất không có mối  liên kết với khâu nguyên vật liệu. Có thể kể ra vài nguyên nhân tiêu biểu cho tình trạng này. Trong chuỗi cung ứng của các thị trường lành mạnh, có một (hay một số) công ty mạnh, chiếm ưu thế trong chuỗi cung ứng. Đây có thể là công ty sản xuất hay công ty thương mại. Các công ty này thường đưa ra cơ chế, quy định, "luật chơi" cho cơ chế liên kết, thông tin, hoạt động trong chuỗi cung ứng đó, chẳng hạn như các hệ tiêu chuẩn kỹ thuật, các chuẩn về kế toán, đánh giá, giao nhận (ví dụ các công ty phần mềm Mỹ hay dùng hệ chuẩn CMM - Capability Maturity Model). Việc thống nhất cơ chế hoạt động giúp chuỗi cung ứng trở nên hiệu quả hơn.

Việc khâu sản xuất tại Việt Nam bị "cắt đứt" khỏi nguồn nguyên liệu Việt chứng tỏ mối liên kết giữa các bên tham gia còn yếu. Công ty Trung Quốc thu mua được nguyên liệu của nhà nông Việt chứng tỏ nhà nông Việt đã có liên kết chặt chẽ hơn với khâu sản xuất trong chuỗi cung ứng Trung Quốc. Các nguyên liệu Việt được chế biến, gia công ở công ty Trung Quốc và có thể xuất khẩu mang nhãn Trung Quốc. Nói cách khác: người nông dân Việt đã dần trở thành nhà cung cấp (supplier) trong chuỗi cung ứng của Trung Quốc.

Toàn cầu hóa và sự thống trị của các chuỗi cung ứng mạnh sẽ phá vỡ, xé lẻ các chuỗi cung ứng yếu. Đây là điều tất yếu. Ở trường hợp này, các chuỗi cung ứng mạnh của Trung Quốc đang dần cắt đứt nguồn nguyên liệu khỏi khâu sản xuất của các chuỗi cung ứng Việt. Họ thu hút vào chuỗi cung ứng của mình các công đoạn rẻ nhất, hay có tính cạnh tranh cao nhất. Họ thu mua nguyên liệu Việt nhiều hơn thuê khoán nhân công Việt gia công nguyên liệu. Điều này chứng tỏ giá nguyên liệu của ta rẻ hơn giá ta gia công sản xuất.

Trong chiến lược quốc gia hay doanh nghiệp, chúng ta vẫn thường đánh giá thấp khâu gia công, làm thuê khoán ngoài. Nhìn khách quan, thực tế với chút hiểu biết về kĩ thuật - kinh doanh, bạn sẽ thấy: nếu vẫn viển vông, không hoạch định một cách nghiêm túc thì không bao lâu nữa, ngành sản xuất của Việt Nam sẽ đánh mất các các chuỗi cung ứng mạnh về nguồn thuê làm gia công. Hay nói khác, lúc đó, vì sinh kế, chúng ta sẽ phải chấp nhận làm các việc gia công rẻ mạt hơn, với giá trị gia tăng thấp hơn các việc ta có thể làm ngày nay nếu hoạch định tốt.

Đâu là nguyên nhân?

Vậy đâu là nguyên nhân khiến doanh nghiệp Việt Nam không mua được nguyên liệu? Câu trả lời có rất nhiều, nhưng có thể liệt kê ra một số nguyên nhân tiêu biểu dưới đây:

Một là, cơ chế thị trường chưa phát huy tác dụng nên doanh nghiệp chưa thấy lợi. Cơ chế thị trường yếu, nhiều thủ tục rắc rối, khiến các doanh nghiệp muốn mua nguyên liệu cũng khó. Đây có thể là nguyên nhân gây nên những nghịch lý như việc bán than tiểu ngạch với thuế xuất thấp trong khi nhập khẩu than chính ngạch đắt và thuế nhập cao hơn nhiều; hay việc nước ta bán sắn tiểu ngạch nhưng lại nhập đến 70% thức ăn cho gia súc.

Hai là, giá thành cho gia công, sản xuất của chuỗi cung ứng Việt cao hơn của các chuỗi cung ứng bên ngoài. Đây là nguyên nhân có tác động lớn đối với ngành công nghiệp Việt. Nói cách khác, năng suất lao động trong lĩnh vực sản xuất hay của nền công nghiệp Việt thấp hơn nhiều so với chuỗi cung ứng bên ngoài. Nguyên nhân quan trọng nhất (và đáng sợ nhất) cho năng suất lao động thấp là công nghệ của ta lạc hậu so với công nghệ của chuỗi cung ứng bên ngoài.

Việc đầu tư nâng cấp cho công nghệ, hay tạo dựng cơ sở hạ tầng công nghiệp là rất tốn kém và cần phải được hoạch định, thực hiện một cách tập trung, kiên định, nhất quán trong 3-4 thập kỷ, chứ không thể làm trong 5-10 năm hay chỉ cần có tiền hay giàu tài nguyên là được. Trong bối cảnh của nửa cuối thế kỷ 20, khi các thị trường quốc gia còn chưa mở cửa, các quốc gia hầu như làm chủ thị trường nội địa và có thể có các chính sách công nghiệp (industrial policy) khôn khéo loại bỏ cạnh tranh nước ngoài, bảo hộ nền công nghiệp của mình. Nhưng ngày nay, nền kinh tế đã mở cửa, bảo hộ nội địa không thực hiện được nữa.

Cần làm gì để bảo tồn chuỗi cung ứng Việt?

Có giả thuyết đặt ra vì sao các doanh nghiệp Việt không đặt giá cao hơn để mua được nguyên liệu của nhà nông Việt. Đây là điều không thể làm được vì các doanh nghiệp Trung Quốc chắc chắn sẽ chấp nhận mua giá cao hơn ta. Vì sao họ làm được như vậy? Vì trong khâu sản xuất, với công nghệ tốt hơn, năng suất lao động cao hơn, họ làm ra giá trị gia tăng cao hơn ta trong cùng một đơn vị sản phẩm. Do đó, họ có thể dùng phần lợi nhuận lớn hơn đó để tăng giá mua nguyên vật liệu. Thị trường có giới hạn, họ mua thì ta không có nguyên liệu. Vì vậy, chỉ cần sau vài mùa họ có thể loại bỏ ta ra khỏi cuộc cạnh tranh, dần dần phá vỡ chuỗi cung ứng và gây thiệt hại cho nền kinh tế.

Vậy đâu là giải pháp thích hợp cho “tử huyệt” này?

Để ngăn ngừa sụp đổ của chuỗi cung ứng, việc cần làm ngay là chuyển hoạt động của nền kinh tế sang chế độ an toàn (Safe Mode). Điều này tương tự như máy tính đã được mặc định để khi bị lỗi quá nặng, nó sẽ tự chuyển sang chế độ an toàn để duy trì hoạt động tối thiểu và tránh vụt tắt hay phải tắt lịm hoàn toàn.

Chế độ an toàn cho nền kinh tế Việt bây giờ là: chuyển từ nền kinh tế hướng tới tăng trưởng sang nền kinh tế đủ dùng, tự tại (tự cung cấp đủ). Tức là chuyển từ định hướng tăng trưởng nhưng đi kèm với nguy cơ đổ vỡ cao sang sự duy trì bền vững và với tính khả thi cao. Theo đó, tư nhân và đặc biệt là Nhà nước, không đầu tư lớn cho tăng trưởng (cho làm giàu) mà cho an sinh, bảo đảm đời sống cho nhân dân. Tránh những tư duy về ngành kinh tế mũi nhọn, sản phẩm chủ lực, "rượt đuổi, bắt kịp","đi tắt, đón đầu".

Về lâu dài, cần đánh giá, định vị, nhìn nhận cơ hội và hoạch định một cách khách quan và chuyên nghiệp để làm gia công, thuê khoán ngoài một cách có định hướng. Định hướng ở đây là: đi vào các ngành chúng ta có thế mạnh (có thể về kỹ năng bẩm sinh, kỹ năng rèn luyện, điều kiện đặc thù về vị trí, địa lý, thổ nhưỡng, nguyên liệu,...) hay các lĩnh vực để sau này tạo ra các chùm, cụm (Clusters) về công nghệ hay khu vực địa lý có tính năng tương tác với nhau. Đồng thời dự kiến phát triển một số chuỗi cung ứng hay công đoạn nhất định của chuỗi cung ứng phù hợp với điều kiện của mình.

Ngoài ra, Nhà nước cần làm đúng chức năng, vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường. Đúng chức năng gồm việc lãnh nhận các trách nhiệm từ trước mà làm chưa tốt như quản lý kinh tế vĩ mô, duy trì sự ổn định vĩ mô, hoạch định phát triển hạ tầng vật chất và khoa học - công nghệ, định hướng cho ghép nhập các doanh nghiệp Việt vào các chuỗi cung ứng khu vực và thế giới… Đúng chức năng cũng là: không làm những việc không phải của mình, mình làm không hiệu quả, tác động xấu tới thị trường như không can thiệp hành chính, mệnh lệnh và phi thị trường vào nền kinh tế, không điều hành sản xuất - kinh doanh.