Sự Suy Tàn Của Chủ Nghĩa Tự Do

Ngô Thảo
10/07/2018 - 19:38 1316     0

Trớ trêu thay, sự đa dạng về văn hóa và bình đẳng dường như không còn tương thích và dần trở thành một trò đùa khập khiễng với thế giới ngày nay. Và đây là lý do tại sao. Hãy cùng Saga.vn thảo luận vấn đề này ra một cách chi tiết hơn.

Dưới đây là ba chiều hướng khác nhau thường gây ra nhiều tranh cãi nhất

  1. Tỷ lệ sinh thấp ở các nền kinh tế tiến bộ và đã phát triển.
  2. Sự nổi lên của các làn sóng bài ngoại từ những người phản đối nhập cư.
  3. Sự mong manh của các chính sách phúc lợi

Trong khi các chủ đề này nghe chừng có vẻ không có gì liên quan với nhau, nhưng trên thực tế chúng lại có tác động với nhau như những khối dominos. Tại các nước giàu có có tỉ lệ sinh thấp hơn các nước khác, họ cần phải bổ sung nguồn nhân lực nhập cư từ nước ngoài để phát triển lực lượng lao động của họ. Nhưng khi tỷ lệ sinh của những người nước ngoài tăng lên, việc bài ngoại (bài ngoại được hiểu là sự sợ hãi hoặc không tin tưởng những người thuộc chủng tộc, sắc tộc, dân tộc khác với mình) của người dân nội địa diễn ra mạnh mẽ và thường xuyên hơn, đe dọa trực tiếp đến việc hoạch định các chính sách bình đẳng của chính phủ, phá bỏ mọi nỗ lực của chính phủ trong việc bổ sung nguồn nhân lực thiếu hụt cho quốc gia.

Không có bất cứ lý do gì để nghĩ rằng đây là nguyên tắc Nhân - Quả không thể tránh khỏi, nhưng khi khuynh hướng này càng trở nên đủ rõ ràng để khiến các nhà hoạch định chính sách của chủ nghĩa tự do này cần phải suy nghĩ lại về vòng lặp diệt vong này và tìm cách để phá vỡ nó.

Thứ nhất, là về những đứa trẻ

Các nhà nhân khẩu học Mỹ đang trở nên hoảng loạn hơn bao giờ hết vì mỗi năm lại đo lường được số liệu về số phụ nữ sinh con thấp ở mức kỷ lục. Có một số cách để phân tích, nghiên cứu các dữ liệu về khả năng sinh sản của một quốc gia - gồm số lần sinh hàng năm trên mỗi người dân, hoặc tổng số lần sinh của một người phụ nữ. Nhưng mọi số liệu thống kê đều góp phần làm sáng tỏ một thực trạng là: Các gia đình người Mỹ hiện nay có ít con hơn 50 năm trước, hoặc thậm chí giảm đi hẳn so với 30 năm trước. Nhật Bản và nhiều nước châu Âu cũng đang đối mặt với "cơn bão nhân khẩu học hoàn hảo" của họ.

Sự thiếu hụt trẻ sơ sinh nghe có vẻ là một điều bất hạnh đáng yêu và là vấn đề không quá là to tát. Nhưng trên thực tế, đó là một vấn đề thực sự quan trọng. Để phát triển nền kinh tế, các quốc gia cần phải mở rộng dân số, đặc biệt là tại thời điểm mức tăng trưởng năng suất thấp. Các nước giàu cũng cần một lực lượng lao động lớn hơn và phong phú hơn để chi trả các phúc lợi của chính phủ cho người bệnh, người nghèo và người cao tuổi.Trong tương lai xa, với sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế tự động hóa, khối lượng công việc dành cho những người lao động có thể sẽ bị  thay thế bởi robot và các công nghệ tự động và con người sẽ không còn là nhân tố chính trong sản xuất nữa. Nhưng trong ngắn hạn, các quốc gia này đang thiếu hụt nguồn nhân lực vô cùng nghiêm trọng. Trên thực tế, số người Mỹ ở độ tuổi từ 25 đến 54 tuổi đã không hề tăng lên trong hơn một thập kỷ qua.

Điều đó dẫn chúng ta đến câu chuyện thứ hai về những người nhập cư

Do tỷ lệ sinh đã giảm ở Hoa Kỳ, Canada, Tây Âu và Nhật, đồng nghĩa với việc tỷ lệ người dân nhập cư đã tăng lên và dần trở thanh một yếu tố quan trọng để bù đắp và giải quyết vấn đề khan hiếm nguồn lực của những nước phát triển. Đây là một sự phát triển rất tốt và hoàn toàn tự nhiên. Những nước này có sự đãi ngộ lương thưởng ở mức  trung bình cao, hấp dẫn những người di cư quốc tế, cộng thêm việc nền kinh tế của họ cần những con người mới để duy trì tăng trưởng GDP và các phúc lợi của chính phủ nên họ sẵn sàng tạo ra những điều kiện với chế độ ưu đãi tốt để thu hút nhân công từ những người di cư.

Điều này có thể sẽ trái với trực giác của một số người khi họ cho rằng một lượng lớn dòng người nhập cư có tay nghề thấp sẽ là một gánh nặng cho nguồn lực của liên bang. Trong ngắn hạn, điều đó có thể xảy ra. Nhưng theo báo cáo năm 2016 của Học viện Khoa học Quốc gia, khi con em của những người nhập cư tìm được việc làm và dần thực hiện các nghĩa vụ đóng thuế, thì các gia đình nhập cư đã được coi là có đóng góp giá trị ròng cho chính phủ trong nhiều thập niên. Ngoài những tính toán lợi ích về kinh tế này, thì cũng cần cân nhắc phạm trù đạo đức khi cho phép các gia đình từ các quốc gia có thu nhập thấp chuyển đến quốc gia giàu có hơn, nơi họ có thể phát triển bản thân và hưởng một cuộc sống tốt hơn.

Nhưng có rất nhiều bằng chứng cho thấy rằng, khi các quốc gia da trắng giàu có chấp nhận sự hiện hữu của dân nhập cư, thì các đảng phái của chủ nghĩa dân tộc cực đoan phát triển mạnh bởi những người bản địa với suy nghĩ rằng người nước ngoài sẽ làm ảnh hưởng đến nền văn hóa quốc gia, các đảng phái cực đoan này dần trở thành một  mối đe dọa lớn đến sự hòa bình và phát triển của chính quốc gia đó. Vấn đề này không còn quá xa lạ với bất kỳ ai theo dõi cuộc đua tranh cử tổng thống Mỹ năm 2016, nhưng đó thực sự là một xu hướng đang bùng nổ toàn cầu. Một nghiên cứu năm 2015 về những người dân nhập cư và những thành phần phản động ở Áo phát hiện ra rằng sự tiếp xúc gần với những người lao động nhập cư có tay nghề trung bình thấp là nguyên nhân "khiến các cử tri Áo quay sang bắt tay với phe chủ nghĩa dân tộc cực đoan". Điều này diễn ra mạnh mẽ nhất ở những khu vực có tỷ lệ thất nghiệp cao , cho thấy những yếu tố về văn hoá và kinh tế có thể làm gia tăng hiện trạng này. Trong đợt bầu cử vừa qua, đảng  phái cực đoan của Áo đã giành phần chiến thắng.

Câu chuyện cuối này gắn liền tới sự thịnh vượng và tương lai sống còn của chủ nghĩa tự do

Các nước giàu có xu hướng tái phân bổ sự giàu có từ những khu vực giàu sang những khu vực dân cư kém phát triển hơn. Nhưng đột nhiên khi dân số lại bao gồm cả các nhóm người thiểu số được xem là người ngoài ( ở đây là chỉ dân nhập cư ) , đa số người da trắng bắt đầu  trở nên bực bội và cố lấy lại những lời hứa về sự bình đẳng họ từng được hứa hẹn . Lấy thành phố Twin Cities của Minnesota làm ví dụ. Họ đã từng tôn kính các chính sách địa phương về sự tự do của họ - như phân bổ lại thuế doanh nghiệp từ các khu vực giàu sang khu vực nghèo và xây dựng nhà ở giá thấp dành cho dân nhập cư gần các khu kinh doanh. Tuy nhiên, kể từ những năm 1980, khi các khu vực đô thị thu hút nhiều người nhập cư không phải là người da trắng, điều này dẫn đến việc tách biệt sâu sắc bởi sự phân biệt chủng tộc và sự cách  biệt quá lớn giữa mức thu nhập ngay tại chính nội tại của đô thị và dự án xây dựng nhà ở giá rẻ đã đóng băng. Hoặc lấy Phần Lan, "Đất nước của Santa Claus" nổi tiếng với các dịch vụ chăm sóc xã hội “từ khi sinh ra cho đến khi chết đi”, nơi mà các chính sách phúc lợi của nhà nước đang bị " phá hoại một cách có hệ thống". Đồng thời trong vài thập kỷ gần đây, số lượng dân nhập cư vào Phần Lan đột ngột gia tăng.

Ảo tưởng về sự thịnh vượng của chủ nghĩa tự do ở Mỹ là một xã hội dân chủ đa nguyên - giấc mơ của một quốc gia độc đáo ủng hộ  sự đa dạng văn hóa và tôn sùng quyền bình đẳng. Sự kết hợp của hai yếu tố này, có vẻ như là một cuộc thử nghiệm ở Mỹ - ngay cả các khu vực  bên ngoài tiểu bang California, Canada dường như còn đang thực hiện thí nghiệm này tốt hơn. Nhưng bài học không thể chối cãi trong vài năm gần đây,  là sự không đồng nhất về văn hoá và chủ nghĩa bình quyền thường xuyên đối lập nhau đã diễn ra ở cả bên trong và bên ngoài nước Mỹ. Xã hội dân chủ đa nguyên đang bị mắc kẹt trong cái bẫy của toán học và sự hỗn loạn, nó kéo một đầu của sợi dây về một phía (ủng hộ sự đa dạng) điểm còn lại (ủng hộ sự bình đẳng) sẽ  được làm căng một cách tự nhiên.

Tương lai của nền kinh tế Mỹ phụ thuộc vào sự gia tăng dân số. Tương lai của sự tăng trưởng dân số ở Mỹ lại phụ thuộc vào lượng dân nhập cư. Nhưng, như phần lớn trên thế giới, dân nhập cư có thể gây ra sự hỗn loạn và phản đối từ người dân bản địa. Chủ nghĩa tự do đòi hỏi người Mỹ phải học cách phá vỡ sự bắt đầu của đa dạng và bình đẳng. Nếu chủ nghĩa quân bình đa văn hóa là tương lai của nền chính trị tự do thì con đường tới tương lai sẽ trở nên cực kì khó khăn.

 

 

Nguồn : Theo SAGA.VN
Ngô Thảo

Saga App

Saga App