Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô Nhìn Từ Góc Độ Thị Trường

Unknown
01/04/2015 - 23:00 3191     0

Để đánh giá tổng quát nền kinh tế, người ta thường theo dõi các chỉ tiêu vĩ mô như: tốc độ tăng tưởng tổng sản phẩm xã hội, tỷ lệ lạm phát, tình trạng thất nghiệp. Ngoài ra, một số chỉ tiêu khác cũng rất đáng quan tâm như: cán cân thương mại, cán cân thanh toán, chất lượng tăng trưởng, thu chi ngân sách. Một số quốc gia, trong đó có Việt Nam, thường đặt ra các mục tiêu cho từng năm và thậm chí cho cả một giai đoạn phát triển. Ổn định kinh tế vĩ mô có nghĩa là tăng trưởng cao và ổn định; lạm phát thấp; cán cân thương mại, cán cân thanh toán, thu chi ngân sách phải ở mức hợp lý.

 

Cỗ xe tam mã

Nhìn dưới góc độ thị trường thì ổn định kinh tế vĩ mô cũng tương đồng với việc ổn định các thị trường: tiền tệ - tín dụng, bất động sản, chứng khoán, các thị trường hàng hoá, dịch vụ, xuất nhập khẩu... Tất cả các thị trường này đều có mối liên hệ và tác động qua lại với nhau rất chặt chẽ.

Chẳng hạn như tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng nhanh sẽ làm nóng nền kinh tế và làm sôi động các thị trường khác và có nguy cơ lạm phát cao; thị trường bất động sản phát triển mạnh sẽ kéo theo ngành xây dựng đi lên; thị trường chứng khoán kém hưng phấn có thể là nguyên nhân khiến vàng và một số hàng hoá chiến lược lên ngôi... Chính vì vậy, việc ổn định kinh tế vĩ mô chung quy lại là cần ổn định một số thị trường chủ chốt, trong đó ba thị trường quan trọng là: tiền tệ-tín dụng, bất động sản, chứng khoán.

1. Thị trường tiền tệ - tín dụng

Đây được xem là thị trường quan trọng nhất trong toàn bộ nền kinh tế và từ trước đến nay, nó được kiểm soát chặt chẽ và mang tính chuyên nghiệp cao bởi Ngân hàng Trung ương của mỗi nước. Việc quản lý thị trường tiền tệ - tín dụng có sự khác nhau giữa các nước tuỳ vào mức độ phát triển của nền kinh tế thị trường. Đối với các nền kinh tế kém phát triển, để ổn định thị trường này cần phải kiểm soát hợp lý tổng phương tiện thanh toán; các loại lãi suất chủ đạo, tốc độ tăng trưởng tín dụng, chất lượng tín dụng. Trên thị trường ngoại hối cần kiểm soát dòng tiền và tỷ giá của một số ngoại tệ chủ chốt so với nội tệ. Việc thả nổi tỷ giá hối đoái ở các nước kém phát triển có thể dẫn đến nhiều rủi ro hơn là thuận lợi.

2. Thị trường bất động sản

Thị trường bất động sản có quy mô vốn hoá lớn nhất và có ảnh hưởng đến nền kinh tế trên nhiều mặt. Bất động sản là tài sản thiết yếu của dân cư và doanh nghiệp. Vì vậy, bong bóng bất động sản là mối nguy cho nền kinh tế và mất ổn định xã hội. Nó là một phần nguyên nhân của tham nhũng, tranh chấp dân sự, bất bình đẳng xã hội, góp phần làm giảm hiệu quả đầu tư.

Bong bóng bất động sản cũng tạo ra bong bóng tiêu dùng và gia tăng lạm phát. Kiểm soát thị trường bất động sản theo kinh nghiệm của nhiều nước là đánh thuế luỹ tiến trên cơ sở diện tích nhà đất và giá trị bất động sản, đồng thời với việc tăng quỹ nhà ở xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu của tầng lớp dân cư thu nhập thấp. Thiết nghĩ, việc xây dựng các nhà máy điện, nước là không quá khó khăn mà chúng ta đang phải sử dụng các sản phẩm này theo giá luỹ tiến thì chủ trương đánh thuế luỹ tiến đối với bất động sản cũng không phải là khắt khe.

3. Thị trường chứng khoán

Thị trường Chứng khoán Việt Nam mới phát triển được tám năm nhưng đã và đang trở thành một kênh đầu tư thu hút sự quan tâm của các doanh nghiệp và dân chúng, đồng thời ngày càng đóng vai trò to lớn trong nền kinh tế. Một Thị trường Chứng khoán ổn định phải có tối thiểu các tính chất sau:

  • Tính hợp lý của Thị trường Chứng khoán thể hiện ở các chỉ số chứng khoán và thị giá cổ phiếu phải phản ánh đúng sức khoẻ của nền kinh tế và hiệu quả sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp. Ở các nước phát triển thì Thị trường Chứng khoán đã thực hiện khá tốt vai trò này và các chỉ số chứng khoán được xem là hàm thử biểu của nền kinh tế. Ở các nước có Thị trường Chứng khoán kém phát triển do trình độ đầu tư còn hạn chế nên các chỉ số chứng khoán biến đổi thất thường và chưa đóng vai trò “chiếc nhiệt kế” của nền kinh tế.
  • Tính thanh khoản của Thị trường Chứng khoán giúp nhà đầu tư yên tâm với các thời hạn đầu tư khác nhau và việc luân chuyển dòng vốn đầu tư được dễ dàng. Tính thanh khoản của thị trường có ý nghĩa quan trọng đối với nhà đầu tư chuyên nghiệp và các tổ chức lớn.
  • Tính hiệu quả của Thị trường Chứng khoán thể hiện ở chỗ nó mang lại lợi ích thiết thực cho tất cả các bên tham gia thị trường bao gồm nhà đầu tư, doanh nghiệp niêm yết, các công ty chứng khoán. Cụ thể là phần lớn các nhà đầu tư thu được lợi nhuận hợp lý, các doanh nghiệp niêm yết được quản trị tốt hơn và huy động nguồn vốn trên Thị trường Chứng khoán một cách thuận lợi, các công tychứng khoán ngày càng ăn nên làm ra do dòng vốn đầu tư tăng dần theo thời gian.

Thị trường Chứng khoán là loại thị trường cao cấp và ngày càng có quy mô lớn với rất nhiều thành phần tham gia. Ở nước ta, do Thị trường Chứng khoán còn mới mẻ và phát triển nhanh nên số lượng người tham gia thị trường theo kiểu “chơi chứng khoán” nhiều hơn số lượng các thành phần đầu tư, do đó thị trường tiềm ẩn nhiều rủi ro và đòi hỏi công tác quản lý điều hành phải theo kịp sự phát triển ngày càng phức tạp của thị trường. Quản lý điều hành Thị trường Chứng khoán đòi hỏi các yêu cầu tối thiểu sau:

1. Kiểm soát quy mô thị trường

Quy mô thị trường được hiểu đơn giản là số lượng các công ty niêm yết, tổng vốn điều lệ niêm yết, tổng vốn hoá của thị trường. Vẫn biết rằng, cổ phần hoá làm tăng hiệu quả của doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế nhưng tốc độ cổ phần hoá nhanh, tương ứng với tốc độ niêm yết trên Thị trường Chứng khoán như trong thời gian vừa qua tiềm ẩn rủi ro lớn. Nếu như ở thị trường tín dụng, tốc độ tăng trưởng tín dụng cao sẽ gắn liền với chất lượng tín dụng thấp và đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước phải kiểm soát tốc độ tăng tín dụng.

Đối với Thị trường Chứng khoán cũng vậy, tốc độ tăng quy mô thị trường quá nhanh luôn đi kèm với chất lượng dòng vốn đầu tư thấp và biểu hiện rõ ràng nhất là cạnh tranh mua, tranh bán trên thị trường khiến chỉ số chứng khoán biến động quá mạnh và ẩn chứa rủi ro cao.

Vì vậy, phải kiểm soát quy mô thị trường phù hợp với quy mô nền kinh tế và chất lượng dòng vốn đầu tư, nếu không có thể gây ra hậu quả rất xấu cho thị trường. Kiểm soát quy mô Thị trường Chứng khoán bao gồm kiểm soát số lượng doanh nghiệp niêm yết mới, kiểm soát việc phát hành tăng vốn của các doanh nghiệp đã niêm yết. Thậm chí, lộ trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước cũng cần xem xét lại và nên tiến hành cổ phần hoá theo phương thức thu gọn, tức là bán từng phần cho đối tác chiến lược, cán bộ nhân viên và một số nhà đầu tư liên quan theo mức giá xác định chứ không đấu giá ra thị trường. Chúng ta biết rằng dòng vốn đầu tư trong xã hội là hữu hạn, nếu mở rộng ra ở khu vực gián tiếp thì phải thu hẹp ở khu vực khác và một khi dòng vốn bị thay đổi quá đột ngột có thể làm biến dạng nền kinh tế. Trong tình hình Thị trường Chứng khoán đang tuột dốc như hiện nay mà HOSE và HASTC vẫn đang chuẩn bị cấp phép niêm yết mới thì quả là bất thường.

2. Tạo dựng niềm tin cho thị trường

Theo dõi trên Thị trường Chứng khoán trong thời gian vừa qua rất dễ dàng nhận thấy phần đông nhà đầu tư mất phương hướng, khi thì bị dẫn dắt bởi nhà đầu tư nước ngoài, có lúc thì ăn theo các yếu tố cơ bản vĩ mô và tình hình tài chính doanh nghiệp, đôi khi bị tác động của các chỉ số chứng khoán quốc tế và giá vàng, lúc khác lại rơi vào “ma trận” của các tay chơi lớn trong nước sắp đặt… Chính vì vậy, cần phải nhanh chóng tạo dựng niềm tin cho nhà đầu tư bằng các yếu tố chủ quan và khách quan. Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, chính sách của Chính phủ và thông tin doanh nghiệp niêm yết phải kịp thời, chính xác nhằm giúp cho nhà đầu tư lựa chọn lĩnh vực kinh doanh và định giá doanh nghiệp hợp lý.

Trong bối cảnh “thế giới phẳng” như hiện nay, sự gắn bó mật thiết giữa các nền kinh tế khiến cho các chỉ số chứng khoán của các quốc gia phải có mối liên hệ nhất định, do đó cần có thông tin nhanh nhạy và rộng rãi về các chỉ số chứng khoán quốc tế để nhà đầu tư tham khảo và tạo niềm tin khi ra quyết định mua bán. Chẳng hạn như yêu cầu các công ty chứng khoán phải niêm yết các chỉ số chứng khoán chủ chốt trên thế giới tại phòng giao dịch và thường xuyên cập nhật trong thời gian giao dịch tại HOSE và HASTC.

3. Nâng cao vai trò của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước

Thị trường Chứng khoán trong bối cảnh hội nhập chịu rất nhiều tác động khách quan, đòi hỏi cơ quan quản lý phải năng động và phản ứng kịp thời với mọi tình huống xảy ra. Ủy ban Chứng khoán cần có đủ quyền lực, tăng cường số lượng và chất lượng nhân sự để điều hành thị trường thông qua việc định hướng thị trường; kiểm soát cung cầu; kiểm tra giám sát và có chế tài xử lý vi phạm trong đầu tư, phát hành, môi giới… Do đó, việc ra đời một cơ quan điều hành chứng khoán dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ là rất cần thiết trong tương lai gần.

Nguồn : Saga Tổng hợp & Biên tập
Unknown