Marketing Cơ Bản: Giới Thiệu Về Marketing

11/02/2020 - 07:00 1039     0

Giới Thiệu, Ý Nghĩa và Định Nghĩa, Tính Năng hoặc Bản Chất Của Marketing, Phạm Vi, Tầm Quan Trọng, Khái Niệm Cốt Lõi, Khái Niệm Truyền Thống và Hiện Đại, Khái Niệm Hiện Đại.

Marketing là gì?

Marketing là một chức năng quản lý quan trọng. Nó bao gồm tất cả các hoạt động kinh doanh liên quan đến dòng chảy của hàng hóa và dịch vụ từ điểm sản xuất đến các điểm tiêu thụ. Một vài định nghĩa quan trọng về marketing là:

(1) Theo Tousley Clerk and Clerk: “Marketing bao gồm những nỗ lực ảnh hưởng đến việc chuyển quyền sở hữu hàng hóa và dịch vụ và phân phối chúng.

(2) Theo lời của Converse, Hugey và Mitchell: “Marketing bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến việc tạo ra các tiện ích địa điểm, thời gian và sở hữu.”

(3) Theo Paul Mazur: “Marketing là việc cung cấp một tiêu chuẩn sống cho xã hội.”

(4) Học viện Marketing của Vương quốc Anh: “Marketing là hệ thống chức năng quản lý, tổ chức và là hoạt động kinh doanh trực tiếp liên quan đến việc đánh giá và chuyển đổi sức mua của khách hàng thành nhu cầu hiệu quả cho một sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể; và chuyển sản phẩm hoặc dịch vụ đó đến khách hàng hoặc người tiêu dùng cuối cùng, đạt được mục tiêu lợi nhuận hoặc các mục tiêu khác do công ty đặt ra”. Do đó, marketing là một giai đoạn hoạt động kinh doanh mà qua đó, mong muốn của con người được thỏa mãn bởi sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ cho những thứ giá trị. Nó là một hệ thống tích hợp các hoạt động tạo ra giá trị trong hàng hóa bằng cách cung cấp những hàng hóa đó cho người tiêu dùng ở dạng thích hợp vào đúng nơi và đúng thời điểm. Nó bao gồm tất cả hoạt động. Đó là điều cần thiết trong việc chuyển hàng hóa từ điểm sản xuất đến các điểm tiêu thụ.

Bản chất của marketing: Bản chất của marketing có thể được hiểu bằng cách nghiên cứu các đặc điểm marketing sau:

(1) Marketing là một quá trình trao đổi: marketing là một quá trình trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa người mua và người bán. Các đơn vị bán hàng chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho người mua để đổi lấy giá mua do người mua trả. Ngay cả thông tin thị trường cũng được trao đổi giữa người mua và người bán.

  • Khoa học và nghệ thuật
  • Quy trình trao đổi
  • Hoạt động kinh tế xã hội
  • Bắt đầu và kết thúc với khách hàng
  • Chức năng quản lý toàn cầu
  • Định hướng mục tiêu
  • Bản chất của marketing
  • Chức năng quản lý quan trọng
  • Tạo các tiện ích
  • Tập trung, bình đẳng và phân tán
  • Quá trình liên tục
  • Sáng tạo và cung cấp tiêu chuẩn sống
  • Một hệ thống năng động

(2) Quá trình marketing bắt đầu và kết thúc với khách hàng: Tất cả các hoạt động marketing đều nhằm thu lợi nhuận thông qua sự hài lòng của mong muốn của người tiêu dùng một cách hiệu quả nhất. Do đó, người tiêu dùng là trọng tâm của quá trình marketing. Những nỗ lực được thực hiện để hiểu hành vi, nhu cầu, mong muốn, thị hiếu, thời trang, sở thích và sở ghét của người tiêu dùng. Sản phẩm và chính sách của doanh nghiệp được đóng khung để đảm bảo sự hài lòng tối đa của người tiêu dùng. Điều này giúp doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận của mình thông qua việc thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng.

(3) Marketing là quá trình định hướng tốt: Tăng khối lượng bán hàng, tăng lợi nhuận và mở rộng kinh doanh là mục tiêu chính của mọi tổ chức. Quá trình marketing cho phép tổ chức đạt được các mục tiêu này thông qua tối đa hóa sự hài lòng của người tiêu dùng. Do đó, marketing là một quá trình diễn ra theo định hướng mục tiêu.

(4) Marketing liên quan đến việc tạo ra các tiện ích: marketing tạo ra giá trị trong hàng hóa bằng cách cung cấp chúng cho người tiêu dùng vào thời điểm và địa điểm thích hợp và thông qua người thích hợp. Do đó, nó tạo ra tiện ích địa điểm, thời gian và sở hữu. Tiện ích thời gian được tạo ra nếu hàng hóa được cung cấp tại thời điểm cần thiết. Tiện ích địa điểm được tạo ra bằng cách phân phối hàng hóa ở những địa điểm cần thiết. Tiện ích sỡ hữu được tạo ra khi hàng hóa được cung cấp cho người thích hợp.

(5) Marketing là một quá trình liên tục: marketing cũng có thể được xem như là một quá trình liên tục liên quan đến nhiều chức năng khác nhau được thực hiện theo trình tự. Các chức năng bao gồm phân tích cơ hội marketing, tiến hành nghiên cứu để chọn thị trường mục tiêu, thiết kế chiến lược marketing, lập kế hoạch chương trình marketing, tổ chức, triển khai và kiểm soát các nỗ lực marketing. Quá trình này phải linh hoạt. Nó bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường khác nhau.

(6) Marketing là một hệ thống năng động: marketing cũng có thể được xem như một hệ thống liên tục hoặc năng động liên quan đến một chuỗi các tương tác và các hoạt động bổ sung của các tổ chức khác nhau để tiếp cận khách hàng. Nó nhận đầu vào từ môi trường kinh doanh dưới hình thức thông tin thị trường có giá trị. Các tổ chức kinh doanh sử dụng thông tin này, cung cấp hàng hoá và dịch vụ mong muốn cho xã hội để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và do đó họ kiếm được lợi nhuận.

(7) Marketing là sự sáng tạo và phân phối tiêu chuẩn sống: Tiêu chuẩn sống của con người trong xã hội được xác định bởi chất lượng và số lượng hàng hóa và dịch vụ được sử dụng bởi họ. Khi chúng tôi nói rằng tiêu chuẩn sống của người dân ở Hoa Kỳ tốt hơn so với người dân ở Ấn Độ, ý chúng tôi là một người Mỹ trung bình sử dụng hàng hóa và dịch vụ có chất lượng tốt hơn, với số lượng dồi dào hơn. Đó chính là marketing. Marketing tạo ra mong muốn và nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ chất lượng tốt hơn trong số các khách hàng tiềm năng và cung cấp hiệu quả - để cung cấp cho họ cách làm hiệu quả - để thỏa mãn họ. Vì vậy, marketing là công cụ trong việc tạo ra và phân phối tiêu chuẩn sống của những người bị chi phối.

(8) Marketing bao gồm mức độ tập trung, sự cân bằng và phân tán: Quá trình marketing liên quan đến dòng chảy liên tục của hàng hóa từ điểm sản xuất đến các điểm tiêu thụ cuối cùng. Nó bao gồm ba pha theo trình tự, cụ thể là (i) Mức độ tập trung, (ii) Sự cân bằng và (iii) Sự phân tán.

  • Yếu tố kinh tế
  • Yếu tố chính trị
  • Yếu tố công nghệ
  • Yếu tố pháp lý
  • Khách hàng
  • Đối thủ cạnh tranh
  • Chính phủ
  • Môi trường kinh doanh
  • Thông tin thị trường
  • Hệ thống và quy trình marketing
  • Lợi nhuận
  • Doanh thu
  • Quá trình tăng trưởng & mở rộng
  • Hàng hóa, dịch vụ, mức độ thỏa mãn tiêu chuẩn sống
  • Thiện chí
  • Người tiêu dùng & Xã hội

Mức độ tập trung đề cập đến việc thu thập hoặc lắp ráp hàng hóa tại một điểm trung tâm từ các nhà sản xuất, chế tạo và thương nhân khác nhau. Nhu cầu tập trung phát sinh do tính không đồng nhất của các nhà sản xuất. Quy mô sản xuất nhỏ của một số doanh nghiệp, nông dân, nghệ nhân và nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng.

Sự cân bằng bao gồm việc điều chỉnh cung thành cầu trên cơ sở thời gian, chất lượng và số lượng. Nó diễn ra thông qua các chức năng marketing: mua bán, vận chuyển, lưu trữ, kho bãi, tiêu chuẩn hóa và phân loại. Quá trình cân bằng ngày càng cần thiết do xu hướng sản xuất theo mùa, nhưng mức tiêu thụ theo mùa của khách hàng lại khác với nhu cầu người tiêu dùng và sự thay đổi thương hiệu của các nhà sản xuất cho phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng. Sự phân tán đề cập đến việc phân phối hàng hóa từ các điểm trung tâm đến những nơi tiêu thụ thông qua kênh phân phối thích hợp. Sự cần thiết của phân tán phát sinh do số lượng lớn người mua rải rác trên diện tích lớn và nhu cầu của dòng chảy liên tục của hàng hóa đến nơi người mua.

(9) Marketing là một chức năng quản lý quan trọng: Marketing là một chức năng quan trọng trong quản lý kinh doanh hiện đại. Sản xuất, tài chính, marketing, phát triển nguồn nhân lực được coi là các chức năng chính của quản lý. Tuy nhiên, sự thành công của các chức năng khác được chi phối bởi sự thành công của chức năng marketing. Do đó, marketing là một yếu tố quan trọng nhất trong các chức năng quản lý.

(10) Marketing là một chức năng phổ quát: Marketing là chức năng thiết yếu của tất cả các loại tổ chức bất kể quy mô, tính chất và địa điểm. Các tổ chức thương mại sử dụng nó để tạo ra nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ của họ để tối đa hóa lợi nhuận. Ngay cả các tổ chức phi chính phủ và phi thương mại như các tổ chức giáo dục, quỹ tín thác từ thiện, các câu lạc bộ và hiệp hội đều sử dụng chức năng marketing để nâng cao hiệu quả hoạt động của họ.

(11) Marketing là một hoạt động kinh tế xã hội: Theo một số chuyên gia như Philip Kotler, Fieldman L.P. và R.R.Gist, marketing là hoạt động kinh tế xã hội. Đó là một triết lý, phương tiện truyền thông nhằm nâng cao mức sống, một phương tiện phụ phục vụ các mục tiêu xã hội và công cụ để mang lại sự thịnh vượng thông qua phát triển kinh tế nhanh hơn. Nó tạo ra và thỏa mãn nhu cầu, mang lại sự bùng nổ trên thị trường, cung cấp nhiều loại hàng hóa và dịch vụ cho mọi người, tạo việc làm, phát triển thương mại, công nghiệp, thương mại và nông nghiệp của một quốc gia.

(12) Các tính năng marketing khác: Trong quá khứ, Marketing được coi là một chức năng kinh doanh liên quan đến việc đưa hàng hóa và dịch vụ đến tay khách hàng. Nhưng hôm nay, marketing là nhiều hơn thế. Nó được coi là một môn khoa học cũng như nghệ thuật. Đây là một chức năng tích hợp các hoạt động marketing khác nhau nhằm cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người tiêu dùng với hiệu quả tối đa. Đó là một hoạt động năng động và một quá trình kinh tế.

Phạm vi marketing

Phạm vi marketing có thể được thảo luận theo các chú thích sau.

(1) Thay đổi trong khái niệm marketing: Theo truyền thống, marketing được coi là hoạt động phân phối nhằm đẩy sản phẩm đến người tiêu dùng với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhiên, khái niệm marketing này đã thay đổi trong những năm gần đây. Theo khái niệm hiện đại, marketing là một hoạt động toàn diện tập trung vào sự hài lòng của người tiêu dùng. Đó là việc cố gắng (i) nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng, (ii) xác định nhu cầu, sở thích và sở ghét của người tiêu dùng, (iii) thiết kế và cải thiện sản phẩm và chính sách của tổ chức để phù hợp với nhu cầu của họ, (iv) bán và phân phối hàng hóa và dịch vụ cho người tiêu dùng, (v) cung cấp các dịch vụ sau bán hàng, nếu có, (vi) đảm bảo sự hài lòng của họ, và (vii) thu được lợi nhuận từ đó. Nhờ có sự thay đổi này trong khái niệm Marketing mà các chức năng marketing đã tăng lên nhiều hơn.

(2) Mở rộng thị trường: Tăng quy mô sản xuất do phát triển công nghệ, trong giao thông vận tải và viễn thông và chính sách thương mại tự do của các quốc gia khác nhau đã dẫn đến việc mở rộng thị trường từ cấp địa phương lên mức toàn cầu. Một số công ty đa quốc gia đã thâm nhập vào các thị trường của các nước đang phát triển. Mọi quốc gia đều cố gắng tăng thị phần trong thương mại quốc tế. Điều này đã dẫn đến việc mở rộng thị trường, mở rộng phạm vi hoạt động marketing.

(3) Tăng trưởng trong hoạt động marketing: Với sự thay đổi trong khái niệm marketing và mở rộng địa lý của thị trường, đã có sự gia tăng rất lớn trong phạm vi marketing. Vai trò của việc gia tăng trung gian trong lĩnh vực marketing ngày càng trở nên quan trọng hơn. Trung gian ở đây là các thương nhân, đại lý, vận chuyển, kho bãi, ngân hàng và công ty bảo hiểm. Hoạt động marketing đã trở nên đa dạng và phức tạp. Chúng được hỗ trợ bởi việc nghiên cứu thị trường và marketing.

(4) Thuê ngoài các hoạt động vận hành marketing:

Trong những năm gần đây, xu hướng thuê ngoài hoạt động vận hành marketing đã xuất hiện dần. Một số công ty đang thuê ngoài phần lớn các quy trình marketing của họ như chăm sóc khách hàng, nghiên cứu thị trường, quảng cáo và đưa ra đại chúng, v.v. Điều này giúp các công ty tập trung tốt vào các hoạt động cốt lõi của họ và sử dụng tối ưu các nguồn lực. Nó cũng giúp họ tận dụng các dịch vụ marketing chuyên gia của các tổ chức chuyên gia với mức giá cạnh tranh.

Chức năng của Marketing

Marketing hiện đại là một thuật ngữ rất rộng bao gồm hàng loạt chức năng kinh doanh quan trọng. Trong một hệ thống marketing, các chức năng ấy có thể được phân loại như sau

Chức năng liên quan đến hoạt động vật lý

(1) Vận chuyển

(2) Lưu trữ

(3) Đóng gói

(3) Phân khúc thị trường

(5) Xếp hạng & Thương hiệu

(6) Thu thập đơn đặt hàng

Chức năng thuyên chuyển quyền sở hữu

(1) Phân tích nhu cầu

(2) Tạo nhu cầu

(3) Phân khúc thị trường

(4) Mua & Bán

(5) Quảng cáo

(6) Thông tin thị trường

Chức năng quản lý thị trường

(1) Chính sách rập khuôn

(2) Tài chính

(3) Tổ chức

(4) Kiểm soát

(5) Kế toán

(6) Nghiên cứu thị trường

(7) Rủi ro gặp phải

Tầm quan trọng của Marketing

Khái niệm về marketing tồn tại ngay cả trong thời kỳ cổ đại. Tuy nhiên, như là một quy tắc quản lý, nguồn gốc của nó là gần đây. Với sự phát triển của các phương pháp sản xuất mới sau cuộc cách mạng công nghiệp và cạnh tranh ngày càng gia tăng trong thời kỳ hậu chiến tranh thế giới cùng với quá trình toàn cầu hóa gần đây, marketing được coi là chức năng quan trọng nhất trong số các chức năng doanh nghiệp khác. Rõ ràng, chúng ta có thể nhận thấy sự thành công của sản xuất, tài chính, phát triển nguồn nhân lực và các chức năng khác của doanh nghiệp hiện đại đều nhờ vào “màn trình diễn" rất đỗi thành công của chức năng marketing.

Theo nhà tư vấn quản lý và học giả nổi tiếng Peter Drucker đã từng nói:”Việc không chú ý, xao lãng đến marketing là một trong những yếu tố chính giữ cho một nền kinh tế ở mức kém phát triển. Ông cũng lập luận rằng, " bản thân marketing có tiềm năng để thay đổi toàn bộ nhịp điệu kinh tế của hệ thống hiện tại mà không cần bất kỳ sự thay đổi nào trong phương thức sản xuất, phân phối dân cư hay thu nhập đầu người. ”Tầm quan trọng của marketing ngày nay có thể được mô tả như bảng dưới đây.

Tầm quan trọng của marketing

Kinh doanh:

(1) Tăng doanh thu

(2) Mở rộng thị trường

(3) Đạt được mục tiêu

(4) Thành công trong cạnh tranh

(5) Tăng cường sự tín nhiệm

(6) Tính ổn định và phát triển

(7) Thông tin thị trường

(8) Thúc đẩy sản xuất

(9) Tạo điều kiện cho việc sản xuất lớn hơn

Cho người tiêu dùng:

1) Cung cấp hàng hóa

(2) Đa dạng các mặt hàng

(3) Cung cấp liên tục, đầy đủ và kịp thời

(4) Chất lượng hàng hóa ở mức giá thấp

(5) Tiêu chuẩn sống

(6) Giáo dục người tiêu dùng

Cho kinh tế & Xã hội

(1) Tạo việc làm

(2) Kích thích sản xuất

(3) Giảm chi phí

(4) Tiêu chuẩn sống

(5) Phát triển kinh tế

(I) Tầm quan trọng của việc marketing cho doanh nghiệp

Dưới đây là những lợi ích của doanh nghiệp tư nhân mà họ sẽ nhận được nếu sử dụng marketing một cách hiệu quả

(1) Tăng doanh thu và lợi nhuận: Mối quan tâm lớn nhất của việc quản lý hàng đầu tại các doanh nghiệp là tăng doanh thu, cải thiện thị phần thị trường và nâng cao lợi tức đầu tư trong kinh doanh. Chức năng marketing hiệu quả cho phép quản lý cấp cao có thể thực hiện các trách nhiệm này.

(2) Mở rộng thị trường: Marketing hiệu quả chuyển đổi cầu tiềm ẩn thành cầu thực tế. Điều này giúp doanh nghiệp hiểu được nhu cầu và hành vi của người tiêu dùng, cải thiện các sản phẩm và chính sách của mình để phù hợp với yêu cầu của khách hàng. Kết quả là, tạo ra sự bao phủ sâu sắc và rộng rãi của thị trường và mở rộng thị trường từ địa phương đến quốc gia và quốc tế.

(3) Đạt được các mục tiêu kinh doanh:

Mục tiêu của mỗi doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận và tài sản thông qua tăng doanh thu, mở rộng thị trường, tối đa hóa sự hài lòng của người tiêu dùng và marketing được dùng như một công cụ hiệu quả cho việc hoàn thành các mục tiêu kinh doanh này

(4) Thành công trong cạnh tranh: Để đạt được thành công trong cạnh tranh toàn cầu khốc liệt tại thị trường hiện đại, thực hiện các hoạt động marketing của mình theo cách khoa học nhất là điều rất cần thiết cho doanh nghiệp. Họ cần phân tích các cơ hội marketing, tiến hành nghiên cứu để lựa chọn thị trường mục tiêu, áp dụng các chiến lược và kế hoạch marketing thích hợp, tổ chức cũng như kiểm soát các hoạt động marketing.

(5) Tăng cường sự tín nhiệm:

Marketing hiệu quả cho phép doanh nghiệp xác định và phục vụ nhu cầu của khách hàng. Nó bao phủ rộng rãi các thị trường và tăng cường sự tín nhiệm trong kinh doanh và phát triển lòng trung thành của khách hàng.

(6) Tính ổn định và phát triển:  

Chức năng marketing cho phép doanh nghiệp phân tích điều kiện thị trường, áp dụng được chiến lược và chính sách marketing phù hợp, chịu được sự cạnh tranh, mở rộng cơ sở khách hàng và ổn định cũng như phát triển kinh doanh.

(7) Cung cấp thông tin thị trường: Chức năng nghiên cứu của marketing cung cấp thông tin giá trị về các xu hướng khác nhau trên thị trường và môi trường kinh doanh. Điều này cho phép quản lý cấp cao đưa ra các quyết định và chính sách hợp lý để nâng cao hiệu quả và hiệu suất kinh doanh.

(8) Sản xuất với dự đoán yêu cầu:

Trước cuộc cách mạng công nghiệp, việc sản xuất được thực hiện bởi các nghệ nhân từ nông thôn với quy mô nhỏ theo các đơn đặt hàng của khách hàng. Tuy nhiên, với sự tiến bộ của công nghệ sau cuộc cách mạng công nghiệp, việc sản xuất một lượng lớn hàng hoá được thực hiện trong các nhà máy lớn theo việc đặt trước của khách hàng. Để hiểu rõ hơn việc sản xuất này và để giữ cho “các bánh xe của ngành công nghiệp được luân phiên”, doanh nghiệp hiện đại cần được hỗ trợ bởi “chiếc cánh" marketing hiệu quả này

(9) Tạo điều kiện cho sản xuất quy mô lớn: Cuộc cách mạng trong công nghệ đã tạo điều kiện cho các nhà kinh doanh hiện đại trong việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ quy mô lớn. Marketing hiệu quả tạo điều kiện cho việc sản xuất quy mô lớn như vậy bằng cách tạo ra, duy trì và mở rộng nhu cầu thị trường cho nó. Sản xuất quy mô lớn như vậy mang lại rất nhiều hiệu quả kinh tế trong việc kinh doanh.

(II) Tầm quan trọng của marketing đối với khách hàng

(1) Cung cấp hàng hóa và dịch vụ:

Marketing mang đến nhiều loại hàng hóa và dịch vụ hữu ích, chất lượng cho người tiêu dùng trên mọi khu vực địa lý rộng. Người tiêu dùng có thể cảm thấy thích thú với các hàng hóa và dịch vụ khác nhau được sản xuất trên toàn thế giới hoặc những nơi khác nhau trên quốc gia của mình. Ví dụ, trà từ Assam, táo từ Kashmir, vải từ Gujarat, máy tính từ Hoa Kỳ, xe hơi từ Đức, xe đạp từ Trung Quốc,...

(2) Đa dạng các loại hàng hóa và dịch vụ:

Hệ thống marketing được phát triển tốt tạo ra sự khác nhau cho từng loại hàng hoá hoặc dịch vụ cho khách hàng. Người tiêu dùng có thể  lựa chọn từ nhiều loại hàng hóa với các kích cỡ, màu sắc và thông số kỹ thuật khác nhau. Họ cũng có thể thay đổi để sử dụng và thưởng thức các loại khác nhau và lấy được sự hài lòng tối đa từ chúng. Ví dụ, các mẫu xe khác nhau có sẵn từ các công ty sản xuất xe hơi, như Maruti-800, Alto, Wagnar, Zen, Omni, Suzuki, Santro, Santro-Zing, Honda City, Scorpio, Tata-Safari, Indica, Opal Astra, Esteem, Ascent, Sonata, Benz, Mercedes, vv Hay kem đánh răng, dầu gội đầu, xe hai bánh, xà phòng và chất tẩy rửa, vv có sẵn trong phạm vi rộng.

(3) Cung cấp liên tục, đầy đủ và kịp thời: Một hệ thống marketing được phát triển tốt sẽ cung cấp hàng hóa và dịch vụ không bị gián đoạn, đầy đủ và kịp thời để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.

(4) Chất lượng hàng hóa ở mức giá thấp:

Phát triển các kết quả marketing trong cạnh tranh, mỗi công ty cần cố gắng xác định nhu cầu chính xác của người tiêu dùng và thực hiện chúng thông qua việc cung cấp hàng hóa chất lượng với giá cạnh tranh. Kết quả là, người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi từ việc đó. Nếu không có sự phát triển của marketing, người tiêu dùng ở vùng sâu vùng xa sẽ phải chịu nhiều khó khăn trong việc có được những hàng hóa và dịch vụ này.

(5) Cải thiện mức sống:

Marketing giúp người tiêu dùng đạt được, duy trì và nâng cao mức sống của họ, cung cấp nhiều loại chất lượng hàng hóa và dịch vụ cho người tiêu dùng một cách liên tục và cải thiện mức sống của họ. Đó là lý do tại sao, Giáo sư Malcolm McNair đã từng khẳng định: “marketing là sự kiến tạo và phân phối tiêu chuẩn sống cho xã hội.”

(6) Giáo dục người tiêu dùng: Marketing cung cấp thông tin hữu ích về các tính năng, tiện ích, hướng dẫn sử dụng, sửa chữa và bảo trì hàng hóa và dịch vụ cho người tiêu dùng. Điều này sẽ giáo dục người tiêu dùng và bổ sung kiến ​​thức cho họ.

(III) Tầm quan trọng của Marketing đối với nền kinh tế

(1) Tạo việc làm: Marketing tạo ra các cơ hội việc làm hiệu quả. Việc làm hiệu quả và liên tục trong sản xuất hàng hóa phụ thuộc vào việc marketing liên tục của sản phẩm. Phát triển marketing dẫn đến sự phát triển trong các lĩnh vực về thương mại, truyền thông, vận chuyển, quảng cáo, công khai, ngân hàng và bảo hiểm tạo ra các cơ hội việc làm lớn trong tất cả các lĩnh vực này.

(2) Kích thích sản xuất: Marketing chuyển đổi yêu cầu tiềm ẩn thành yêu cầu thực tế và sản xuất nhiều loại hàng hóa và dịch vụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cao trong xã hội, kích thích sản xuất và đẩy nhanh sự hình thành vốn trong nền kinh tế.

(3) Giảm chi phí: Phát triển marketing dẫn đến mở rộng thị trường và sản xuất quy mô lớn, làm cho chi phí sản xuất và phân phối thấp hơn, giá thấp hơn cho người tiêu dùng và tạo ra lợi ích cuối cùng cho xã hội.

(4) Cải thiện mức sống:

Hệ thống marketing của một quốc gia cung cấp đa dạng các hàng hoá và dịch vụ cho người dân với số lượng đầy đủ. Nó kích thích sản xuất và cải thiện chất lượng sản xuất, chuyển đổi sản xuất và sức mua thành việc tiêu thụ. Đó là lý do tại sao Giáo sư Malcolm McNair từng nói , “marketing là kiến tạo và phân phối tiêu chuẩn sống cho xã hội.”

(5) Đẩy nhanh việc phát triển kinh tế:

Thông thường, không thể có chuyện hoạt động kinh tế ở mức cao mà không có hệ thống marketing phát triển cao. Hệ thống marketing cung cấp các kênh ý tưởng thông tin cho nhà sản xuất về các nhu cầu và sở thích cụ thể của người tiêu dùng. Nó cũng thông báo cho người tiêu dùng biết về các sản phẩm được cung cấp bởi các nhà sản xuất. Hệ thống đó cũng làm cho hàng hóa được sản xuất cho người tiêu dùng vào đúng thời điểm và đúng nơi bất cứ khi nào họ cần. Do đó, marketing có chức năng duy trì và phát triển các hoạt động kinh tế.

Peter Drucker đã từng khẳng định, “Marketing có thể chuyển đổi yêu cầu tiềm ẩn thành yêu cầu thực tế để tạo ra sức mua, cái  mà nó không thể tự tạo ra và chuyển được. Nhưng nó có thể phát hiện và chuyển tất cả các năng lượng sức mua đang tồn tại. Do đó, nó có thể tạo ra các điều kiện cho một hoạt động kinh tế cao hơn nhiều so với trước đây và có thể tạo ra các cơ hội cho doanh nghiệp. Sau đó nó có thể tạo ra sự kích thích trong việc phát triển cách quản lý chuyên nghiệp hiện đại, có trách nhiệm bằng cách tạo cơ hội cho nhà sản xuất, những người biết cách lập kế hoạch, tổ chức, dẫn dắt con người và đổi mới.”

Các khái niệm cốt lõi về marketing

Marketing là hoạt động của con người nhằm đáp ứng nhu cầu và mong muốn của con người thông qua việc trao đổi. Để hiểu đúng và thích hợp về marketing, chúng ta nên có một sự nhận thức hoàn thiện về các khái niệm cốt lõi nhất định về marketing, chẳng hạn như nhu cầu, mong muốn, yêu cầu, sự hài lòng, trao đổi hay giao dịch. Những khái niệm cốt lõi này có thể được giải thích như sau:

(A) Nhu cầu: Theo triết lý hiện đại, nhu cầu và mong muốn của con người là điểm khởi đầu của các nỗ lực marketing. Con người cần thức ăn, không khí, nước, quần áo và nơi trú ẩn phục vụ cho sự sống còn. Ngoài những nhu cầu chính này, con người cũng còn có nhu cầu giải trí, giáo dục, thuốc men và một số hàng hóa và dịch vụ khác. Theo Philip Kotler, nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được. Do đó, nhu cầu là thuộc về tâm lý hoặc là một yêu cầu tâm lý. Nó kích thích cá nhân hành xử theo một cách cụ thể cho sự hài lòng của nó. Những nhu cầu này tồn tại trong kết cấu sinh học và tình trạng con người. Chúng bị ảnh hưởng bởi tiêu chuẩn xã hội và văn hóa. Theo Abraham Maslow, một nhà tâm lý học nổi tiếng của Mỹ, nhu cầu của con người có thể được phân loại theo cấp bậc sau

- (i) nhu cầu sinh lý: chẳng hạn như thực phẩm, nước, không khí, quần áo, nơi trú ẩn, ngủ và tình dục. (ii) Nhu cầu được bảo vệ: bảo vệ vật lý, an ninh kinh tế và an sinh xã hội, (iii) Nhu cầu xã hội: phát sinh từ nhu cầu tình cảm như nhu cầu tình yêu và đam mê, (iv) Nhu cầu được tôn trọng: như địa vị xã hội và tự tôn trọng và (v) Nhu cầu tự thể hiện mình: chẳng hạn như nhu cầu cần kiến ​​thức và sự tự thể hiện, khám phá tiềm năng. Các marketer không tạo ra nhu cầu mà nhu cầu có trước marketer. Các markerter tác động đến mong muốn của người tiêu dùng. Họ chỉ đề nghị người tiêu dùng một loại hàng hóa cụ thể mà sẽ đáp ứng sự hài lòng nhu cầu của người đó về sự tôn trọng hoặc an ninh.

(B) Mong muốn: Mong muốn là những khao khát cụ thể cho những nhu cầu sâu sắc hơn. Thử nghe một ví dụ sau, một người cần thức ăn và muốn ăn Masala Dosa. Anh ấy cần quần áo và muốn mua một bộ đồ bò hoặc cả bộ quần áo của Raymonds. Mong muốn là nhu cầu của con người được định hình bởi văn hóa và cá tính cá nhân. Như vậy, một người Nam Ấn có thể ăn cơm và rassam hoặc Idli và Dosa để thỏa mãn nhu cầu ăn uống của mình, trong khi một người Bắc Ấn có thể ăn Paratha và Alu-Mutter hoặc Chapati và Paneer; người Trung Quốc có thể ăn mì hoặc cơm chiên. Trong khi nhu cầu của mọi người rất ít nhưng họ lại muốn rất nhiều. Nhu cầu của con người liên tục được định hình và định hình lại bởi các lực lượng xã hội và các thể chế, cũng như sở thích cá nhân.

(C) Yêu cầu: Nhu cầu đề cập đến mong muốn cho một sản phẩm cụ thể, đằng sau là khả năng mua và sẵn sàng mua nó. Đó là thước đo cho sự sẵn sàng của người tiêu dùng để mua. Nó cũng được mô tả như một thước đo về tiện ích của sản phẩm cho một người tiêu dùng cá nhân hoặc cho toàn bộ thị trường. Người quản lý marketing liên tục tìm kiếm các lý do tại sao người tiêu dùng mua sản phẩm của mình và cách họ có thể ảnh hưởng đến hành vi tương lai của người tiêu dùng thông qua khuyến mại, quảng cáo, giá cả, phát triển sản phẩm và đổi mới. Thành công cuối cùng của họ phụ thuộc vào nhu cầu và sự hiểu biết của người tiêu dùng.

(D) Giá trị khách hàng: Giá trị khách hàng là sự khác biệt giữa lợi ích mà khách hàng nhận được từ việc sở hữu và sử dụng một sản phẩm và chi phí mua sản phẩm đó. Tất cả người tiêu dùng đều được hướng dẫn bởi việc xem xét giá trị người tiêu dùng, trong khi đưa ra lựa chọn sản phẩm.

Trong thị trường hiện đại, nhiều loại sản phẩm có sẵn để đáp ứng một nhu cầu cụ thể. Người tiêu dùng phân tích giá trị của các sản phẩm thay thế này để lựa chọn. Họ so sánh lợi ích của việc sở hữu một sản phẩm so với chi phí để nhận được nó. Những lợi ích này có thể là tiền hoặc vật lý hoặc tâm lý. Những lợi ích này có thể dựa trên tiện ích cũng như cảm xúc hoặc tình trạng. So sánh các chi phí so với lợi ích nhận được, về tiền bạc hoặc các điều kiện khác.

(E) Sự hài lòng của người tiêu dùng: Nói một cách đơn giản, sự hài lòng của người tiêu dùng có nghĩa là cảm giác đáp ứng đầy đủ điều kiện mà người tiêu dùng đã trải nghiệm sau khi sử dụng một sản phẩm. Nó phụ thuộc vào nhận thức của sản phẩm trong việc phân phối giá trị liên quan đến kỳ vọng của người mua.

Người mua, trong khi mua hàng hóa hoặc dịch vụ, họ mong đợi một mức độ tiện ích cụ thể nào đó từ nó và khi hàng hóa hoặc dịch vụ sẽ thực sự được tiêu thụ, nó cung cấp một mức độ tiện ích cụ thể như thế. Nếu mức độ tiện ích được cung cấp phù hợp với mức độ kỳ vọng, thì sự hài lòng của người tiêu dùng sẽ xuất hiện. Nếu mức độ tiện ích được cung cấp bởi sản phẩm hoặc dịch vụ không đạt sự mong đợi, người mua vẫn sẽ không hài lòng. Nhưng, nếu mức độ tiện ích được cung cấp vượt quá sự mong đợi, nó sẽ mang lại niềm vui cho người tiêu dùng.

Ví dụ, nếu bạn dự định thực hiện chuyến tham quan thông qua đại lý du lịch, bạn sẽ mong rằng đại lý ấy sẽ sắp xếp cho mình một chuyến du lịch thoải mái và tốt đẹp. Trong hành trình ấy, nếu bạn cảm thấy dễ chịu và nếu tất cả các sự sắp xếp cho việc ăn uống và chỗ ở là ổn định, bạn sẽ cảm thấy hài lòng khi kết thúc chuyến du lịch. Nhưng, nếu bạn phải đối mặt với rất nhiều sự khó chịu và bất tiện trong chuyến du lịch ấy, bạn sẽ cảm thấy không vui. Và nếu tất cả những sắp xếp của đại lý du lịch nhiều hơn mong đợi của bạn, chẳng hạn như họ tổ chức các chương trình giải trí, kỷ niệm sinh nhật của du khách, chỗ ở tuyệt vời, hay đồ ăn phong phú và tặng một số quà vào cuối chuyến du lịch, bạn sẽ rất vui sướng.

Philip Kotler cam đoan rằng một tổ chức nên phấn đấu cho sự thỏa mãn của khách hàng hơn là sự hài lòng của người tiêu dùng.

(F) Trao đổi: Trao đổi đây tức là việc trao đổi hàng hóa bằng tiền hoặc giá trị của tiền. Nó là hành động có được một đối tượng mong muốn từ ai đó bằng cách đưa lại một thứ nào đấy. Các yếu tố cần thiết để trao đổi như là

(1) Hai chủ thể:  Phải cần có hai bên. Một bên giữ hàng hóa hoặc dịch vụ mà bên kia muốn.

(2) Sức mua: Bên muốn hàng hóa hoặc dịch vụ nên có sức mua để trả tiền cho những hàng hóa hoặc dịch vụ đó.

(3) Giao tiếp: Hai bên phải có khả năng giao tiếp với nhau để thương thảo các điều khoản và điều kiện trao đổi.

(4) Tự do: Mỗi bên nên chấp nhận quyền tự do hoặc từ chối đề nghị của bên kia.

(5) Tín tưởng lẫn nhau: Phải có niềm tin và sự tin cậy lẫn nhau giữa các bên trao đổi. Họ nên tin tưởng lẫn nhau. Khi hoàn thành trao đổi, cả hai bên đều có được lợi ích hoặc cân nhắc từ nó. Do đó, trao đổi là quá trình tạo ra giá trị.

(G) Giao dịch: Theo Philip Kotler, “Một giao dịch kinh doanh là một vụ buôn bán các giá trị giữa hai bên”. Người mua và người bán là hai bên tham gia giao dịch. Cả hai đều có kỳ vọng về nhau trong quá trình giao dịch. Người mua, bỏ tiền túi ra, nên mong đợi sản phẩm mình mua có chất lượng tốt, giá cả hợp lý, giao hàng nhanh chóng và nguồn cung ổn định. Người bán, kiếm lời từ chính hàng hóa và dịch vụ của mình, kỳ vọng ​​giá bán tốt, được người mua thanh toán kịp thời theo các điều khoản bán hàng. Khi những kỳ vọng chung của người mua và người bán phù hợp với nhau, giao dịch sẽ diễn ra. Marketing dựa trên những giao dịch như vậy được gọi là marketing giao dịch.

(H) Marketing quan hệ: Thiết lập mối quan hệ lâu dài với khách hàng và các bên liên quan khác, như nhà phân phối, đại lý và nhà cung cấp để đảm bảo việc kinh doanh của bạn không bị gián đoạn, được gọi là marketing quan hệ. Nhà kinh doanh hiện đại phấn đấu thực hiện marketing quan hệ bằng cách xây dựng tiếng nói và mối quan tâm cùng có lợi với các bên liên quan bằng việc hứa hẹn và nhất quán cung cấp các sản phẩm chất lượng cao, dịch vụ tốt với mức giá hợp lý. Điều này đảm bảo lợi nhuận và triển vọng cho việc kinh doanh.

Triết lý marketing truyền thống và marketing hiện đại

Triết lý thị trường là niềm tin hay thái độ giúp cấp quản lý đưa ra những nỗ lực marketing cho một doanh nghiệp. Một cách hiểu đúng đắn về cách mạng triết lý marketing rất cần thiết cho việc nghiên cứu một cách có hệ thống về quản trị marketing hiện đại. Triết lý marketing đã thay đổi dần dần kể từ cuộc cách mạng công nghiệp lớn. Dưới đây là giải thích ngắn gọn về triết lý marketing truyền thống và hiện đại.

(A) Triết lý truyền thống: Theo triết lý cũ này, marketing chủ yếu quan tâm đến những thủ thuật và chiến thuật nhằm đẩy sản phẩm đến tay người tiêu dùng và sau đó phục hồi giá của nó. Marketing là một hoạt động phân phối, do đó, công việc chính là đảm bảo hàng hóa được phân phối hiệu quả đến tất cả điểm bán trên thị trường. Marketing truyền thống sử dụng một số biện pháp xúc tiến bán hàng để tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp. Cách tiếp cận truyền thống tập trung mạnh vào bán hàng thay vì marketing. Triết lý này định hướng sản phẩm thay vì định hướng người tiêu dùng. Hình  dưới đây cho chúng ta cái nhìn rõ hơn về triết lý truyền thống.

  • Triết lý marketing truyền thống
  • Sản phẩm
  • Bán hàng
  • Tiếp thị
  • Tối đa hóa lợi nhuận

Theo triết lý truyền thống, chức năng của marketing bắt đầu sau khâu sản xuất. Doanh nghiệp không quan tâm đến việc phải hiểu biết nhu cầu và sở thích của khách hàng hay cung cấp dịch vụ sau bán hàng (chăm sóc khách hàng). Trách nhiệm của nhà cung cấp kết thúc ngay sau khi hàng hóa được bán ra. Nguyên tắc "Caveat emptor" (Người mua hãy cẩn thận) được áp dụng trong marketing. Theo nguyên tắc này, người mua nên cẩn trọng và phòng ngừa rủi ro trước khi mua hàng và tốt nhất họ nên tự mình mua. Những khiếu nại, nếu có, sau khi mua sẽ không được người bán giải đáp (Nói cách khác người mua phải chịu trách nhiệm về hàng hóa đã nhận và không thể truy đòi người bán nếu sản phẩm bị lỗi hay hư hỏng). Do đó, triết lý marketing truyền thống bảo vệ quyền lợi của người bán và không quan tâm đến sự hài lòng của người tiêu dùng.

(B) Triết lý marketing hiện đại: Triết lý marketing hiện đại chỉ được giới thiệu trong triết học marketing sau những năm 1950. Theo triết lý hiện đại, marketing là một hoạt động hướng đến người tiêu dùng và không chỉ là hoạt động định hướng bán hàng. Do đó, nhiệm vụ chính của doanh nghiệp là nghiên cứu nhu cầu, mong muốn và sở thích của những người tiêu dùng tiềm năng và theo đó, doanh nghiệp phải sản xuất và cung ứng hàng hóa, dịch vụ thỏa mãn người tiêu dùng. Tất cả các hoạt động kinh doanh phải xoay quanh dịch vụ khách hàng và sự hài lòng của họ. Sản phẩm được thiết kế và cải tiến, các kế hoạch marketing, chính sách và chương trình được xây dựng để phục vụ một cách hiệu quả nhu cầu và sở thích của người tiêu dùng thông qua nghiên cứu marketing.

Vì vậy, theo triết lý hiện đại, marketing đều bắt đầu và kết thúc bằng sự hài lòng và hạnh phúc của người tiêu dùng. Marketing là một hệ thống tổng thể, thực hiện nhiều hoạt động, như nghiên cứu thị trường, lập kế hoạch và phát triển sản phẩm, định giá và tiếp thị sản phẩm, phân phối và phát triển mối quan hệ thân thiết với khách hàng.

Hệ thống marketing xây dựng và cung cấp một tiêu chuẩn sống cho xã hội. Lợi nhuận là một sản phẩm phụ doanh nghiệp đạt được sau khi cung cấp thứ khách hàng muốn và làm thỏa mãn họ. Điều kiện để đảm bảo lợi nhuận đó là sự hài lòng của khách hàng.

(I) Triết lý truyền thống:

Triết lý truyền thống đề cập đến triết học marketing cũ. Có năm triết lý marketing truyền thống mà các tổ chức kinh doanh dựa vào đó thực hiện hoạt động marketing. Đó là-

(1) Triết lý sản xuất: Triết lý sản xuất là triết lý lâu đời nhất trong kinh doanh cho đến những năm 1930. Theo triết lý này, người tiêu dùng sẽ ưa chuộng những sản phẩm có sẵn để dùng và được phân phối rộng rãi với giá thấp. Vì vậy, việc quản trị marketing nên tập trung vào việc giảm thiểu chi phí sản xuất cũng như phân phối sản phẩm hiệu quả. Triết lý sản xuất tin rằng nếu sản phẩm thực sự tốt và giá cả hợp lý, thì những nỗ lực marketing đặc biệt là không cần thiết. Triết lý này được minh họa như sau

  • Giá thấp
  • Sản xuất
  • Doanh thu tốt
  • Cung cấp phù hợp

Triết lý sản xuất phù hợp trong hai tình huống - (1) khi nhu cầu về sản phẩm vượt quá khả năng cung ứng và (2) khi giá thành sản phẩm cao. Trong những tình huống như vậy, doanh nghiệp có thể gia tăng sản xuất và giảm chi phí để đạt được doanh thu tốt.

(2) Triết lý sản phẩm: Triết lý sản phẩm tin rằng người tiêu dùng ưa thích những sản phẩm có chất lượng tốt, kiểu dáng độc đáo. Do vậy, quản trị marketing nên tập trung các nỗ lực của mình vào việc cải tiến sản phẩm liên tục để tối đa hóa doanh thu và lợi nhuận. 

Vì vậy, theo triết lý sản phẩm, bất cứ khi nào một công ty sở hữu một sản phẩm tốt, họ có thể tự tạo ra cầu cho chính mình và chỉ cần một chút nỗ lực tiếp thị bán hàng.

(3) Triết lý bán hàng: Triết lý bán hàng cho rằng người tiêu dùng sẽ không mua hết các sản phẩm của doanh nghiệp trừ khi doanh nghiệp có nỗ lực bán hàng và tiếp thị tích cực. Chỉ tạo ra những sản phẩm tốt nhất với mức giá hợp lý là không đủ, nhà sản xuất còn phải cam kết bán hàng, thực hiện quảng cáo và quan hệ công chúng hiệu quả. Triết lý này được chỉ ra trong:

  • Sản phẩm
  • Tiếp thị
  • Bán hàng

Triết lý bán hàng hữu ích cho việc quảng bá kinh doanh những hàng hóa mà người mua không dễ dàng nghĩ đến việc mua như bảo hiểm, hàng tiêu dùng, xe hơi, xe tay ga, tivi, máy tính, v.v. Giả định của triết lý này là:

(1) Tạo ra sản phẩm tốt nhất có thể với giá cả hợp lý

(2) Tìm người mua cho sản phẩm; và

(3) Tích cực áp dụng các hoạt động quảng cáo, bán hàng và tiếp thị bán hàng, để tối đa hóa doanh thu và lợi nhuận.

(4) Triết lý Marketing: Triết lý marketing là một triết lý mới xuất hiện trong kinh doanh. Theo triết lý này, chìa khóa để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp nằm trong việc xác định nhu cầu và mong muốn của khách hàng tiềm năng và thỏa mãn nhiều người hơn các đối thủ cạnh tranh. 

(5) Triết lý marketing xã hội: Triết lý này là một sự tinh tế hơn nữa của khái niệm marketing. Theo triết lý này, công việc của marketer vượt ra ngoài những hiểu biết về nhu cầu của người tiêu dùng . Marketer cũng nên quan tâm không chỉ đến sự hài lòng của người tiêu dùng, mà còn là cho phúc lợi xã hội nói chung, phúc lợi của người tiêu dùng nói riêng. Nói cách khác, cấp quản lý nên thể hiện trách nhiệm xã hội trong khi tiến hành hoạt động kinh doanh. Ví dụ, một công ty ô tô nên cố gắng cung cấp những sản phẩm sử dụng nhiên liệu không chỉ hiệu quả mà còn chứa ít chất gây ô nhiễm. 

Các đặc điểm của triết lý định hướng xã hội là:

(1) Sản xuất các sản phẩm mà người tiêu dùng mong muốn;

(2) Tuân thủ các nghĩa vụ xã hội trong khi thực hiện marketing;

(3) Đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và đạt được những mục tiêu kinh doanh dài hạn.

(II) Triết lý marketing hiện đại:

Theo triết lý marketing hiện đại, tất cả các hoạt động marketing được thực hiện chủ yếu để xác định những gì người tiêu dùng mong muốn và thỏa mãn những mong muốn này thông qua marketing tích hợp nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Như vậy,

Triết lý hiện đại là định hướng người tiêu dùng, được hỗ trợ bởi marketing tích hợp nhằm đem lại sự hài lòng cho người tiêu dùng, là chìa khóa để đáp ứng các mục tiêu của tổ chức.

Các thành phần chính của triết lý marketing hiện đại là:

(1) Định hướng khách hàng: Theo Peter Drucker, mục đích của kinh doanh hiện đại là tạo ra khách hàng. Chức năng marketing của doanh nghiệp nên tập trung toàn bộ vào khách hàng. Cần cố gắng để xác định nhu cầu và mong muốn của khách hàng trước khi cam kết nguồn lực của mình để sản xuất và phân phối sản phẩm và dịch vụ. Khách hàng là thượng đế và tất cả các hoạt động kinh doanh nên xoay quanh nhu cầu và mong muốn của khách hàng. Thay vì cho khách hàng những thứ phù hợp với lợi ích của doanh nghiệp, doanh nghiệp nên quan tâm đến việc hiểu nhu cầu của khách hàng và làm thỏa mãn chính xác những nhu cầu đó. Đây được gọi là định hướng khách hàng. Định hướng khách hàng cần tiến hành nghiên cứu để hiểu nhu cầu, mong muốn, sở thích và hành vi của người tiêu dùng, coi đó như là bàn đạp của mọi kế hoạch, đề xuất kinh doanh

(2) Marketing tích hợp: Triết lý quan trọng thứ hai của marketing hiện đại là marketing tích hợp. Bằng cách theo dõi nhu cầu của người tiêu dùng, toàn bộ hoạt động marketing, như dự báo nhu cầu, lập kế hoạch bán hàng, quảng cáo, bán hàng, phân phối, vận chuyển, lưu trữ, v.v ... phải được tích hợp phù hợp. Hơn nữa, marketing là một phần của chức năng quản lý. Chức năng marketing ảnh hưởng đến các chức năng khác của doanh nghiệp, chẳng hạn như sản xuất, tài chính, nhân sự, vv và lần lượt bị ảnh hưởng bởi các chức năng này. Marketing tích hợp thiết lập tất cả chức năng của quản lý; liên kết và tích hợp với những biến đổi marketing nhằm tạo ra khách hàng và giữ chân họ.

3) Sự hài lòng của khách hàng: Trụ cột thứ ba của triết lý marketing hiện đại là sự hài lòng của khách hàng. Thành công lâu dài của doanh nghiệp phụ thuộc phần lớn vào sự hài lòng của khách hàng mà nó tạo ra. Do đó, nhiệm vụ chính của nhà quản trị marketing là tối đa hóa sự hài lòng của khách hàng. Khách hàng có nhu cầu, sở thích và kỳ vọng của riêng mình. Những kỳ vọng này liên quan đến giá cả, chất lượng, tốc độ giao hàng, dịch vụ sau bán hàng. Một nhà quản trị marketing giỏi phải xác định và đáp ứng được những kỳ vọng của khách hàng một cách tốt nhất. Thành công của nhà quản trị sẽ không được đo lường bằng khả năng ông ta đưa sản phẩm của công ty vượt lên các sản phẩm khác trên thị trường, hay khả năng tạo ra lợi nhuận và tài sản bổ sung cho doanh nghiệp. Mà thành công của ông ta sẽ được đánh giá dựa trên khả năng ông ta đáp ứng được nhu cầu và mong đợi của người tiêu dùng. Ví dụ: Sự thành công của một tổ chức giáo dục được đánh giá không dựa trên số tiền thặng dư mà tổ chức đó tạo ra thông qua các khoản phí và đóng góp của học viên, mà dựa trên cơ sở tổ chức có bao nhiêu học viên tìm được công việc phù hợp và thành công trong cuộc sống.

Nguồn : THEO SAGA.VN