Lịch sử và tương lai của đồng Euro

02/12/2014 - 20:25 10558     0

Đồng euro là đồng tiền chung đối với 17 trên 28 nước thành viên của Liên minh châu Âu, các nước này kết hợp để tạo ra các khu vực đồng tiền chung châu Âu.Vì vậy để thực sự hiểu đồng euro thì bạn cần hiểu hiểu lịch sử của khu vực đồng tiền chung châu Âu.

Những mặt tích cực

Khu vực đồng tiền chung châu Âu là mối quan hệ đối tác dựa trên đàm phán giữa các quốc gia tham gia Liên minh châu Âu (EU) nhằm chia sẻ những lợi ích kinh tế và chính trị thường chỉ các nước lớn hơn mới có. Những kỳ vọng hiệp đồng và dự báo về tính kinh tế theo quy mô từ sự thỏa thuận giữa các nước này nhằm đem lại một tác động tích cực, lâu dài cho tất cả các quốc gia thành viên. Bản thân Liên minh châu Âu đã bắt đầu phát triển ngay sau khi thế chiến thứ hai kết thúc với vai trò thúc đẩy một châu Âu hòa bình và kinh tế ổn định.

Liên minh châu Âu đem lại: sự chung sống hoà bình, giảm các hạn chế về biên giới, cho phép du lịch miễn phí, tổng hợp sức mạnh và ảnh hưởng trên quy mô toàn cầu, gia tăng thịnh vượng (mặc dù không đồng đều giữa các quốc gia), thúc đẩy quyền con người đa phương, thúc đẩy những ý tưởng mới để giảm sự nóng lên toàn cầu, và đáng chú ý nhất là, việc sử dụng một đồng tiền chung châu Âu - euro.

Đồng euro được thiết kế để đơn giản hóa quá trình cung cấp dịch vụ, vận chuyển hàng hóa và di chuyển vốn giữa các quốc gia sử dụng đồng euro. Các mục tiêu của đồng euro thì rất cao cả nhưng kết quả đạt được thì không phải lúc nào cũng tốt đẹp.

Các quy định ban đầu yêu cầu một nước từ bỏ đồng nội tệ của mình để chuyển sang đồng euro là dễ hiểu và nhằm loại bỏ các quốc gia yếu hơn, đồng thời tạo ra một mối quan hệ tương đối ổn định giữa các quốc gia đáp ứng được các tiêu chí này. Các quy tắc chính thức được nêu ra trong Hiệp ước Maastricht năm 1992, đã xác định cách thức các thành viên của Liên minh châu Âu có thể tham gia vào Liên minh về kinh tế và tiền tệ châu Âu (EMU) và cuối cùng, đồng euro.

Các tiêu chí của hiệp ước Maastricht bao gồm: lạm phát, hơn tối đa 1,5% so với mức trung bình của tất cả các thành viên, nợ chính phủ và giới hạn thâm hụt ngân sách, quy định tỷ giá hối đoái và giới hạn mức lãi suất dài hạn. Sau khi tất cả các tiêu chí này đã được giải quyết, thì đồng euro ra đời vào năm 2002 (mặc dù ngày có thể khác nhau đối với một vài quốc gia) và bây giờ euro là đồng tiền thứ hai trên thế giới được giao dịch nhiều nhất, chỉ sau đồng đô la Mỹ mặc dù đồng euro khi phát hành vẫn neo theo đồng đô la Mỹ.

Vấn đề của các nước sử dụng đồng euro

Một vấn đề liên quan đến đồng euro là sự sai lệch so với những tiêu chí ban đầu khi tham gia EMU. Vấn đề khó giải quyết nhất là nợ. Các giới hạn ban đầu đã được thiết lập ở mức tối đa là 60% các khoản nợ của chính phủ so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP), một số nước có tỷ lệ nợ trên GDP đạt trên 100% GDP (xem đồ thị).

Trớ trêu ở chỗ các nước EU và cao hơn là EMU đã thỏa thuận tăng hạn mức đi vay với kỳ vọng mức đòn bảy đó có thể được sử dụng để thúc đẩy nhu cầu cụ thể của mỗi nước. Nợ luôn luôn là một con dao hai lưỡi và nếu được dùng đúng cách nó thực sự hữu ích. Ví du, với quyền đi vay được gia tăng, Italy đã có thể nâng cao cả mức sống và trình độ học vấn của nước này để trở nên cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, thành công này đã đi kèm với chi phí tài chính lâu dài nghiêm trọng và cuối cùng có thể buộc Ý phải tái cơ cấu, tái thiết hoặc có thể mất khả năng thanh toán đối với khoản nợ của mình.

Hy Lạp có tỷ lệ nợ trên GDP tương tự như Italy và đã rơi vào suy thoái khi hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng quốc gia đồ sộ bằng cách tạo công ăn việc làm cho một nửa dân số và đánh thuế ở mức tối thiểu.

Trái ngược với Hy lạp khi Tây Ban Nha bắt đầu sử dụng đồng Euro, thì không những là Tây Ba Nha không bị  tích lũy nợ mà còn tăng trưởng nhanh chóng với nguồn vốn mới. Tây Ban Nha đã chọn một con đường khác, chủ yếu dưới hình thức phát triển khu vực kinh tế tư nhân vốn trì trệ kể từ khi kết thúc Thế chiến II. Tuy nhiên mặc dù tỷ lệ nợ trên GDP của Tây Ba Nha không bị tăng vọt như Hy Lạp nhưng thay vào đó thâm hụt thương mại của nước này  lại gia tăng đáng kể khi tốc độ phát triển không còn bền vững và không thể bù đắp cho mất cân bằng trong cán cân thương mại. Chính vì vậy mà bây giờ Tây Ban Nha đang phải đối mặt với những thách thức trong việc chuyển hướng những nỗ lực của mình để phát triển một nền kinh tế cân đối hơn, bao gồm mức xuất khẩu cao hơn. Có thể sẽ mất nhiều năm để nước này đạt được sự cân bằng mong muốn.

Dù bằng con đường nào đi chăng nữa thì tỷ lệ nợ cao đã phủ một bóng đen lên đồng euro. Và những hoạch định nền tảng, tiêu chí hay các quy định mà EMU vạch ra cho cho nước thành viên thực chất đã phản tác dụng. Vậy thì tại sao EMU  hy vọng rằng các quốc gia khác nhau về ngôn ngữ, phong tục, lịch sử khác nhau lại có thể có chung một đồng tiền và thậm chí là  tiến bộ và phát triển với một tốc độ như nhau.

Con đường của đồng euro

Khi mới ra đời, đồng euro neo ngang với đồng đô la Mỹ (1:1). Tại thời điểm đó, tất cả các đồng nội tệ của các quốc gia thành viên đã được hủy bỏ và đồng euro mới được thiết lập và cho phép thả nổi với các đồng tiền khác. Dù có nhiều năm biến động nhưng giá đã dịch chuyển theo chiều hướng có lợi cho đồng euro bởi đồng đô la Mỹ suy yếu hàng năm, đạt đỉnh điểm vào khoảng 1.6:1 trong cuộc khủng hoảng ngân hàng. Kể từ cuộc khủng hoảng năm 2008, biến động vẫn tiếp tục, nhưng xu hướng chung là đồng euro mạnh hơn, ngay cả khi mức nợ và thâm hụt thương mại đã tăng lên.

Lời kết

Sự phát triển của Liên minh châu Âu dường như đã mang lại nhiều lợi ích nhưng các cuộc tranh cãi về việc áp dụng đồng tiền chung duy nhất cho EU thì vẫn sẽ tiếp diễn. Mặc dù không thể phủ nhận rằng, các nước thành viên có thể  vay tiền nhiều hơn với chi phí thấp hơn để phát triển và tăng trưởng theo những cách khác nhau, nhưng cái giá của điều này thì cũng không hề nhỏ.

Giá trị của đồng euro đã tăng cao kể từ khi ra đời, và trong cuộc khủng hoảng ngân hàng, nó được coi là một nơi trú ẩn an toàn trong khi các nhà đầu tư chạy trốn khỏi đồng đô la Mỹ. Dần dần, nhiều nước đã học được rằng một đồng tiền mạnh không phải lúc nào cũng tốt như họ tưởng. Nó có thể làm cho hàng hóa xuất khẩu trở nên đắt đỏ hơn, khiến cán cân thương mại mất cân bằng và điều này khi kết hợp với mức nợ ngày càng mở rộng thì chỉ càng làm tình hình thêm trầm trọng. Thời gian sẽ đưa ra câu trả lời về số phận của đồng euro. Mặc dù đồng euro vẫn còn là một trong những đồng tiền hấp dẫn nhất trên thế giới tuy nhiên ai có thể khẳng định rằng cái ý tưởng vĩ đại này sẽ  không bị quên lãng sau hơn một thập kỷ nữa.