Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Cấu Trúc Vốn Của Một Công Ty

Hà Phương
10/09/2020 - 07:00 661     0

Với vai trò là chủ một doanh nghiệp, bạn cần đặc biệt lưu tâm đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Bài viết này sẽ phân tích các yêu tó ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của một công ty.

 

Một số yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của một công ty như sau:


Cấu trúc vốn có nghĩa là tỷ lệ nợ và vốn chủ sở hữu được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh.

 

Cấu trúc vốn = Nợ / Vốn chủ sở hữu

 

Nói cách khác, cấu trúc vốn đại diện cho tỷ lệ vốn nợ và vốn chủ sở hữu trong cơ cấu vốn. Rất khó để xác định loại cấu trúc vốn nào là tốt nhất cho một công ty. Cấu trúc vốn như một cách làm tăng giá trị của vốn chủ sở hữu hoặc tối đa hóa sự giàu có của các cổ đông.

 

Nợ và vốn chủ sở hữu khác nhau về chi phí và rủi ro. Tuy nợ ít liên quan đến chi phí hơn, nhưng nó là chứng khoán có tính rủi ro cao trong khi vốn chủ sở hữu là các chứng khoán có giá đắt, những chứng khoán này lại là những chứng khoán an toàn theo quan điểm của công ty.

 

Các khoản nợ có tính rủi ro vì nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp là phải thanh toán lãi thường xuyên. Trong trường hợp họ không trả được nợ, các chủ sở hữu có thể yêu cầu bồi thường bằng tài sản của công ty và nếu công ty không đáp ứng được số tiền gốc, công ty đó thậm chí có thể bị thanh lý và mất khả năng thanh toán.

 

Chứng khoán vốn là chứng khoán an toàn theo quan điểm của công ty vì công ty không có nghĩa vụ pháp lý phải trả cổ tức cho các cổ đông vốn nếu nó đang thua lỗ nhưng đây là những chứng khoán đắt tiền.

 

Cấu trúc vốn của doanh nghiệp ảnh hưởng đến lợi nhuận và rủi ro tài chính. Một cấu trúc vốn tốt nhất là một cấu trúc vốn có thể làm tối đa hóa giá trị của các cổ đông hoặc làm tăng giá cổ phiếu của vốn chủ sở hữu. Thông thường các công ty sử dụng khái niệm đòn bẩy tài chính để thiết lập cấu trúc vốn.

 

Đòn bẩy tài chính / Giao dịch trên vốn chủ sở hữu:

Đòn bẩy tài chính đề cập đến tỷ lệ nợ trong tổng vốn.

Đòn bẩy tài chính = D / E

 

Trong đó, D = Nợ, E = Vốn chủ sở hữu

 

 Với các công ty có quỹ nợ, quỹ và thu nhập sẽ tăng do nợ là nguồn tài chính rẻ hơn nhưng lại rất rủi ro nếu tỷ lệ nợ cao  hơn trong cấu trúc vốn. Nợ tăng sẽ dẫn đến doanh thu tăng chỉ khi tỷ lệ doanh thu của công ty, tức là, lợi tức đầu tư nên nhiều hơn lãi suất của các khoản nợ. Nếu lãi suất cao hơn thu nhập hoặc ROI của công ty thì nợ sẽ nhiều hơn, điều đó có nghĩa là công ty sẽ thua lỗ.


Để chứng minh rằng chủ sở hữu của các công ty sẽ tăng hoặc kiếm được nhiều tiền hơn trên mỗi cổ phiếu khi nợ liên quan đến cấu trúc vốn, chúng tôi sẽ lấy ví dụ sau, trong đó công ty sẽ sử dụng tất cả vốn chủ sở hữu của nó vào một trường hợp, sau đó sẽ bao gồm nợ cùng với vốn chủ sở hữu ở trường hợp thứ hai, và cuối cùng là cộng thêm vào nợ và vốn chủ sở hữu trong tình huống thứ ba.

 

Trường hợp 1:



Tổng vốn = 50 Lakhs

(Lakhs là mười vạn đồng rupi của Ấn Độ)

 

Vốn chủ sở hữu = 50 Lakhs (500.000 cổ phiếu với giá 10 rupi /cổ phiếu)



Nợ = Không



Thuế suất = 30% 

 

Thu nhập trước lãi và thuế (EBIT) = 700.000 rupi

 

Trường hợp 2:

 

Tổng vốn = 50 Lakhs

 

Vốn chủ sở hữu = 40 Lakhs (400.000 cổ phiếu với giá 10 rupi/cổ phiếu)

 

Nợ = 10 Lakhs

 

Thuế suất = 30% 

 

Lãi vay = 10%

 

Thu nhập trước lãi và thuế (EBIT) = 700.000



Trường hợp 3:

 

Tổng vốn = 50 Lakhs

 

Vốn chủ sở hữu = 30 Lakhs (300.000 cổ phiếu với giá 10 rupi/cổ phiếu)

 

Nợ = 20 Lakhs

 

Thuế suất = 30% 

 

Lãi vay = 10%

 

Thu nhập trước lãi và thuế (EBIT) = 700.000

 

Bây giờ chúng ta sẽ tính thu nhập trên mỗi cổ phiếu trong tất cả các trường hợp trên.

Nếu chúng ta so sánh ở bảng trên, chúng ta có thể thấy rằng trong trường hợp 3, các cổ đông sẽ nhận được lợi nhuận cao nhất, tiếp đến là trường hợp 2 và thu nhập ít nhất là trong trường hợp 1. DĐiều này chứng tỏ nợ nhiều hơn sẽ mang lại thu nhập cao hơn cho các chủ sở hữu trong cấu trúc vốn.

 

Nhưng phát biểu này chỉ đúng cho đến khi đạt được số vốn, tức là, mức hoàn vốn  đầu tư của công ty sẽ cao hơn lãi suất tính trên nợ. Như chúng ta có thể thấy lợi tức đầu tư trong ví dụ này,



= EBIT / Tổng đầu tư x 100 = 700.000 / 5.000.000 x 100

 

= 14%, nhiều hơn lãi suất.

 

Lợi tức đầu tư là 14% và lãi suất là 10%

 

14%> 10%, tức là ROI> Lãi suất.

 

Nếu lợi tức đầu tư thấp hơn lãi suất thì các vốn cổ đông sẽ mất do có nhiều khoản nợ hơn. Sau đó, nhiều vốn chủ sở hữu sẽ có lợi cho chủ sở hữu của công ty để chứng minh điều này. Chúng ta hãy lấy một ví dụ trong đó lợi tức đầu tư thấp hơn lãi suất.

 

Trường hợp 1:

 

Tổng vốn = 5.000.000

 

Vốn chủ sở hữu = 5.000.000 (500.000 cổ phiếu với giá 10 rupi/cổ phiếu)

Nợ = Không

 

Thuế suất = 30% 

 

Lãi suất = 10% 

 

Thu nhập trước lãi và thuế = 300.000

 

ROI = 300.000 / 5.000.000 × 100 = 6%

 

Trường hợp 2:

 

Tổng vốn = 50, 00.000

 

Vốn chủ sở hữu = 4.000.000 (400.000 cổ phiếu với giá 10 rupi/cổ phiếu)

Nợ = 10, 00.000

 

Thuế suất = 30% 

 

Lãi suất = 10% 

 

Thu nhập trước lãi và thuế = 300.000

 

ROI = 300.000 / 5.000.000 x 100 = 6%

 

Trường hợp 3:

 

Tổng vốn = 5.000.000

 

Vốn chủ sở hữu = 3.000.000 (300.000 cổ phiếu với giá 10 rupi/cổ phiếu)

 

Nợ = 2.000.000

 

Thuế suất = 30%

 

Lãi suất = 10% 



Thu nhập trước lãi và thuế = 300.000

 

ROI = 300.000 / 5.000.000 x 100 = 6%

 

Bây giờ chúng ta hãy tính thu nhập trên mỗi cổ phiếu trong tất cả các tình huống.

Điều này đã chứng minh rằng trong trường hợp lợi tức đầu tư thấp hơn lãi suất, các cổ đông vốn sẽ kiếm được ít tiền hơn khi nợ được đưa vào cấu trúc vốn.

 

Nói cách khác, trong giai đoạn bùng nổ, chúng ta phải có nhiều nợ và ít cổ phần vốn hơn trong cơ cấu vốn và trong thời kỳ suy thoái khi thu nhập hoặc lợi nhuận ít hơn, chúng ta nên có nhiều vốn chủ sở hữu và ít nợ hơn trong cơ cấu vốn.



Các yếu tố quyết định cấu trúc vốn:

 

Các yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến quyết định của cấu trúc vốn là:

 

1. Vị trí của dòng tiền:

Quyết định liên quan đến thành phần của cấu trúc vốn cũng phụ thuộc vào khả năng kinh doanh để tạo ra đủ dòng tiền.



Công ty có nghĩa vụ phải trả lãi suất cố định cho chủ nợ, cổ tức cho cổ phiếu ưu đãi và số tiền gốc và lãi cho các khoản vay. Đôi khi công ty tạo ra đủ lợi nhuận nhưng nó không thể tạo ra dòng tiền để thanh toán.



Dòng tiền dự kiến ​​phải phù hợp với nghĩa vụ thanh toán vì nếu công ty không thanh toán, nó có thể phải đối mặt với việc mất khả năng thanh toán. Trước khi cho các khoản nợ vào trong cấu trúc vốn, công ty phải phân tích đúng tính thanh khoản của vốn lưu động.

 

Một công ty sử dụng nhiều chứng khoán nợ hơn trong cơ cấu vốn của mình khi công ty đó chắc chắn phải tạo ra đủ dòng tiền trong khi nếu thiếu tiền thì phải sử dụng nhiều vốn chủ sở hữu hơn trong cơ cấu vốn vì công ty không có trách nhiệm trả cho các cổ đông của công ty .



2. Tỷ lệ bảo hiểm lãi suất (ICR):

Nó đề cập đến số lầncông ty có thu nhập trước lãi suất và thuế (EBIT) bao gồm các nghĩa vụ thanh toán lãi.

 

ICR = EBIT / Lãi suất

 

ICR cao có nghĩa là các công ty có thể có nhiều chứng khoán quỹ vay hơn và ngược lại, ICR thấp hơn thì chứng khoán quỹ vay ít hơn.

 

3. Tỷ lệ bảo hiểm nợ (DSCR):

Đó là một bước trước khi tính ICR, tức là, ICR bao gồm nghĩa vụ trả lại tiền lãi cho cáckhoản nợ nhưng DSCR quan tâm đến việc trả lãi cũng như trả nợ gốc.

Nếu DSCR cao thì công ty có thể có nhiều nợ hơn trong cơ cấu vốn vì DSCR cao cho thấy khả năng trả nợ của công ty. Nếu DSCR ít thì công ty phải loại trừ nợ và chỉ phụ thuộc vào vốn chủ sở hữu.



4. Lợi tức đầu tư:

Lợi tức đầu tư là một yếu tố quan trọng khác giúp quyết định cơ cấu vốn. Nếu lợi tức đầu tư lớn hơn lãi suất thì công ty phải ưu tiên tỷ lệ nợ trong cơ cấu vốn của mình trong khi nếu lợi tức đầu tư thấp hơn lãi suất thì công ty nên hạn chế các khoản nợ và chỉ nên dựa vào vốn chủ sở hữu. Điều này cũng được giải thích sớm hơn trong việc trang bị tài chính bằng cách đưa ra các ví dụ.



5. Chi phí nợ:

Nếu công ty có thể thu xếp vốn vay với lãi suất thấp thì nó sẽ có tỷ lệ nợ cao hơn so với vốn chủ sở hữu.

 

6. Thuế suất:

Thuế suất cao làm cho nợ rẻ hơn vì tiền lãi phải trả cho chủ sở hữu sẽ bảo đảm cho nợ được trừ vào thu nhập trước khi tính thuế, trong khi các công ty phải trả thuế cho số cổ tức phải trả cho cổ đông. Vì vậy, thuế suất cao có nghĩa là tỷ lệ nợ cao hơn trong khi ở mức thuế thấp, vốn chủ sở hữu sẽ có tỷ lệ cao hơn trong cấu trúc vốn.

 

7. Chi phí vốn chủ sở hữu:

Một yếu tố khác giúp quyết định cấu trúc vốn là chi phí vốn. Chủ sở hữu hoặc cổ đông mong đợi lợi tức từ các khoản đầu tư của họ, tức là tiền kiếm được trên mỗi cổ phiếu. Nếu nợ đang làm tăng thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS), thì chúng ta có thể đưa nó vào cấu trúc vốn nhưng khi EPS bắt đầu giảm khi bao gồm nợ thì chúng ta phải phụ thuộc vào vốn cổ phần.



8. Chi phí thả nổi:

Chi phí thả nổi là chi phí liên quan đến vấn đề cổ phiếu hoặc ghi nợ. Những chi phí này bao gồm chi phí quảng cáo, bảo lãnh phát hành phí theo quy định v.v ... Đây là một sự xem xét quan trọng đối với các công ty nhỏ nhưng ngay cả các công ty lớn cũng không thể bỏ qua yếu tố này. Bởi vì đi cùng với chi phí sẽ có nhiều thủ tục pháp lý phải hoàn thành trước khi tham gia vào thị trường vốn. Phát hành cổ phiếu và ghi nợ đòi hỏi nhiều thủ tục hơn cũng như chi phí thả nổi nhiều hơn. Trong khi đó lại có ít hơn các chi phí liên quan đến việc tăng vốn bằng các khoản vay hoặc tiền ứng trước.

 

9. Xem xét các rủi ro:

Rủi ro tài chính đề cập đến một trường hợp khi một công ty không thể đáp ứng được các chi phí tài chính cố định như lãi suất, cổ tức ưu đãi, thanh toán cho các chủ nợ, ngoài rủi ro tài chính, doanh nghiệp cũng sẽ có một số rủi ro hoạt động. Nó phụ thuộc vào chi phí hoạt động; chi phí hoạt động cao hơn có nghĩa là rủi ro kinh doanh cao hơn. Tổng rủi ro phụ thuộc vào cả rủi ro tài chính cũng như rủi ro kinh doanh.

 

Nếu rủi ro kinh doanh của công ty thấp thì nó có thể tăng thêm vốn bằng cách phát hành chứng khoán nợ trong khi tại thời điểm rủi ro kinh doanh cao thì nên phụ thuộc vào vốn chủ sở hữu.

 

10. Linh hoạt:

 

Dư nợ có thể hạn chế khả năng của công ty để có thể được vay thêm. Để duy trì tính linh hoạt, công ty phải duy trì một số khả năng vay mượn để đề phòng các trường hợp không lường trước được.

 

11. Kiểm soát:

Các cổ đông vốn được coi là chủ sở hữu của công ty và họ có toàn quyền kiểm soát công ty. Họ ra tất cả các quyết định quan trọng để quản lý công ty. Các trái chủ không có tiếng nói trong quản lý và cổ đông ưu đãi bị hạn chế quyền bỏ phiếu trong đại hội thường niên. Vì vậy, toàn bộ quyền kiểm soát của công ty nằm trong tay của các cổ đông vốn.



Nếu chủ sở hữu và cổ đông hiện hữu muốn kiểm soát hoàn toàn công ty, họ phải sử dụng nhiều chứng khoán nợ hơn trong cơ cấu vốn vì nếu phát hành thêm cổ phiếu vốn thì một cổ đông khác hoặc một nhóm cổ đông có thể mua nhiều cổ phiếu và giành quyền kiểm soát đối với công ty.

 

Các cổ đông sẽ lựa chọn các giám đốc tạo thành Hội đồng quản trị và Hội đồng quản trị có trách nhiệm và quyền hạn trong việc quản lý công ty. Vì vậy, nếu một nhóm cổ đông khác nhận được nhiều cổ phiếu hơn thì cơ hội mất quyền kiểm soát là nhiều hơn.

 

Các chủ nợ không có quyền biểu quyết nhưng nếu có một khoản nợ lớn thì chủ nợ có thể đưa ra một số điều khoản và điều kiện nhất định cho công ty như hạn chế thanh toán cổ tức, thực hiện thêm các khoản vay, đầu tư vào các quỹ dài hạn, v.v. Vì vậy công ty phải lưu ý các loại chứng khoán nợ sẽ được phát hành. Nếu các cổ đông hiện tại muốn kiểm soát hoàn toàn thì họ nên ưu tiên nợ, cho vay với số lượng nhỏ, v.v ... Nếu họ không muốn chia sẻ quyền kiểm soát thì họ cũng có thể mua cổ phần vốn chủ sở hữu.

 

12. Khung pháp lý:

Các vấn đề về cổ phiếu và ghi nợ phải được thực hiện theo hướng dẫn của SEBI và việc cho vay. Các công ty phải tuân theo các quy định của chính sách tiền tệ. Nếu hướng dẫn của SEBI dễ dàng thì các công ty có thể phát hành thêm chứng khoán để có thêm vốn trong khi nếu chính sách tiền tệ linh hoạt hơn thì họ có thể đi vay thêm.

 

13. Điều kiện thị trường chứng khoán:

Có hai điều kiện chính của thị trường, tức là, điều kiện Boom. Những điều kiện này ảnh hưởng đến cấu trúc vốn đặc biệt khi công ty đang có kế hoạch tăng thêm vốn. Tùy thuộc vào điều kiện thị trường, các nhà đầu tư có thể cẩn thận hơn trong giao dịch của họ.

 

Trong thời kỳ suy thoái trên thị trường, hoạt động kinh doanh trì trệ và các nhà đầu tư cũng ngại mạo hiểm, tại thời điểm này nên phát hành chứng khoán quỹ vay vì chúng ít rủi ro hơn và đảm bảo việc trả nợ định kỳ và trả lãi thường xuyên. Tuy nhiên vào thời kỳ bùng nổ, hoạt động kinh doanh đang phát triển và các nhà đầu tư cũng chấp nhận rủi ro và thích đầu tư vào cổ phiếu vốn để kiếm thêm tiền dưới dạng cổ tức.



14. Cơ cấu vốn của các công ty khác:

 

Một số công ty đóng khung cấu trúc vốn của họ theo định mức Công nghiệp. Nhưng quan tâm đúng cách phải được thực hiện một cách mù quáng theo các chỉ tiêu công nghiệp có thể dẫn đến rủi ro tài chính. Nếu công ty không thể chấp nhận rủi ro cao thì không nên tăng thêm nợ chỉ vì các công ty khác cũng đang tăng.

 

 
Nguồn : Saga.vn
Hà Phương
Hà Phương