6 Cách Để Nâng Cao Lợi Suất Danh Mục Đầu Tư Ngày Nay

27/12/2014 - 23:43 4548     0

Nhà đầu tư hiện nay phải đối mặt với nhiều thách thức khi muốn tìm ra cách đơn giản để kiếm được mức tỷ suất lợi nhuận cao hơn chứng chỉ tiền gửi (CD) và lãi suất hiện tại. Ngày nay, họ có thể tìm thấy các sản phẩm đầu tư vô cùng khó hiểu, với mức phí cao ngất ngưởng và độ biến động mạnh ở hầu hết các thị trường và các sản phẩm như quỹ phòng vệ và chứng khoán phái sinh. Các sản phẩm này sẽ khiến mọi người giàu có, ngoại trừ nhà đầu tư. Vì vậy, sau đây là một vài lời khuyên giúp bạn nâng cao tỷ suất lợi nhuận và phòng tránh một số sai lầm trong đầu tư

 

Cổ phiếu vượt trội hơn Trái phiếu

Mặc dù trong thập kỷ qua, thị trường cổ phiếu biến động mạnh nhưng nó vẫn liên tục vượt trội so với thị trường trái phiếu. Cổ phiếu mang lại rủi ro cao hơn trái phiếu, nhưng nếu kết hợp hai loại này trong cùng một danh mục đầu tư dưới sự kiểm soát chặt chẽ thì có thể đem lại lợi suất hấp dẫn với mức biến động thấp.

Nếu chúng ta nhìn lại giai đoạn đầu tư từ năm 1926 (khi các số liệu theo dõi lần đầu tiên xuất hiện) đến năm 2010, chỉ số S&P 500 (gồm 500 cổ phiếu vốn hóa lớn của Mỹ) đã đạt lợi suất gộp trung bình hàng năm là 9.9% trong khi trái phiếu chính phủ Mỹ dài hạn chỉ đạt mức trung bình 5,5% trong cùng thời kỳ.

Nếu bạn tiếp tục để ý thì chỉ số giá tiêu dùng (CPI - công cụ đo lường mức độ lạm phát) trong cùng thời kỳ là 3,0%, tức là lợi suất thực giảm xuống còn 6,9% (đối với cổ phiếu) và 2,5% (đối với trái phiếu). Lạm phát có thể làm xói mòn sức mua và lợi suất, nhưng đầu tư vào cổ phiếu có thể giúp nâng cao lợi suất, do đó đầu tư vào cổ phiếu là việc đáng làm. 




Biểu đồ 1: Lợi suất trung bình hàng năm (1926-2010)

Nguồn số liệu: Dimensional Matrix Book 2011, S&P500 Index and Long-term Government Bonds from the "Stocks, Bonds, Bills, and Inflation Yearbook", Ibbotson Associates, Chicago.

Công ty nhỏ và Công ty lớn

Nếu bạn nhìn vào lịch sử hoạt động của các công ty Mỹ (từ năm 1926 ) và các công ty quốc tế (từ năm 1970) khi mới có số liệu theo dõi chỉ số, bạn sẽ thấy rằng các công ty vốn hóa nhỏ vượt trội hơn so với các công ty vốn hóa lớn trên cả thị trường Mỹ và thị trường quốc tế.

Các công ty nhỏ hơn sẽ có rủi ro cao hơn so với các công ty lớn theo thời gian bởi vì chúng không được quản lý tốt như các công ty lớn. Công ty nhỏ là những đối tượng rủi ro cao khi đi vay ngân hàng, có hoạt động nhỏ lẻ và ít nhân viên hơn, hàng tồn kho ít và, thông thường, có rất ít hồ sơ theo dõi. Tuy nhiên, một danh mục đầu tư nghiêng về các công ty quy mô nhỏ đến trung bình hơn các công ty lớn thường mang lại lợi suất cao hơn so với chỉ mua cổ phiếu vốn hóa lớn.

Các công ty nhỏ của Mỹ vượt trội hơn trung bình 2.1%/năm so với các công ty lớn kể từ năm 1926. Tương tự, các công ty quốc tế nhỏ vượt trội hơn 5.8%/năm so với các công ty quốc tế lớn kể từ năm 1970. Biểu đồ dưới đây sẽ cho thấy chỉ số lợi suất trung bình hàng năm cho cả công ty lớn và nhỏ kể từ khi có số liệu theo dõi.




Biểu đồ 2: Lợi suất trung bình hàng năm 1926-2010 (U.S. Stock Indexes), 1970-2010 (Int'l Stock Indexes).

Nguồn số liệu: Dimensional Matrix Book 2011. Fama/French US Small Cap Index 1926-2010 (US Small Caps); S&P 500 Index 1926-2010 (US Large Caps); 50% UK Small Cap Index & 50% Japan Small Cap Index 1970-1981 (Int'l Small Caps), Dimensional Int'l Small Cap Index 1982-2010 (Int'l Small Caps), MSCI EAFE Index 1970-2010 (Int'l Large Caps).

Quản lý chi phí của bạn

Cách bạn đầu tư vào danh mục sẽ tác động trực tiếp đến chi phí đầu tư cũng như lợi nhuận đầu tư ròng mà bạn thu về. Hai phương pháp đầu tư chính là thông qua quản lý chủ động hoặc quản lý thụ động. Chi phí cho quản lý chủ động cao hơn nhiều so với quản lý thụ động. Mức chênh lệch chi phí giữa hai cách thức này là ít nhất 1% mỗi năm. Quản lý chủ động có xu hướng tốn kém hơn nhiều so với thụ động vì cần phải chi nhiều tiền để thuê các nhà phân tích nghiên cứu, chuyên viên và các nhà kinh tế học với nhiệm vụ tìm kiếm các ý tưởng đầu tư tốt nhất cho danh mục đầu tư của bạn. Bởi vì các nhà quản lý chủ động phải chi tiền cho tiếp thị quỹ và chi phí bán hàng nên họ thường tính phí cho các khoản đầu tư để các nhà môi giới ở phố Wall bán quỹ của họ.

Quản lý thụ động nhằm giảm thiểu chi phí đầu tư và tránh những tác động tiêu cực trong trường hợp không dự đoán được biến động thị trường. Các quỹ chỉ số sử dụng phương pháp này để sở hữu toàn bộ thị trường cổ phiếu thay vì phải định thời điểm thị trường và lựa chọn cổ phiếu. Các nhà đầu tư và các chuyên gia có chuyên môn sâu hiểu rằng các nhà quản lý tích cực nhất cũng không thể liên tục đánh bại thị trường.  Do đó, tại sao phải tốn tiền cho quỹ đầu tư chủ động khi việc quản lý thụ động thường ít tốn kém hơn ba lần.

Ví dụ : Danh mục đầu tư trị giá 1.000.000 USD được quản lý thụ động với 0,40% chi phí sẽ mất 4.000 USD mỗi năm cho các khoản đầu tư . Còn danh mục đầu tư trị giá 1.000.000 USD được quản lý chủ động với 1,20% chi phí sẽ mất 12.000 USD một năm cho các khoản đầu tư .

Công ty giá trị và Công ty tăng trưởng

Từ khi có đầu tư theo chỉ số, công ty giá trị đã vượt trội so với công ty tăng trưởng trên cả thị trường Mỹ và thị trường quốc tế. Những chuyên gia tài chính từng nghiên cứu cả công ty giá trị và công ty tăng trưởng trong hàng chục năm gọi đây là "hiệu ứng giá trị." Một danh mục đầu tư nghiêng hơn về các công ty "giá trị" so với công ty "tăng trưởng" thường mang lại lợi suất đầu tư cao hơn.

Giá cổ phiếu tăng trưởng có xu hướng cao hơn so với các chỉ số kế toán cơ bản của nó. Các công ty tăng trưởng được coi là lành mạnh, tăng trưởng nhanh, và thường rất ít quan tâm đến việc trả cổ tức. Mặt khác, công ty giá trị có giá cổ phiếu thấp so với các chỉ số kế toán như giá trị sổ sách, doanh số bán hàng và thu nhập. Các công ty này thường trong hoàn cảnh khó khăn, tăng trưởng lợi nhuận thấp và có triển vọng u ám trong tương lai. Một vài công ty giá trị sẽ trả cổ tức hàng năm cho các nhà đầu tư. Điều này có thể làm tăng lợi suất gộp của nhà đầu tư và có lợi nếu trong năm giá cổ phiếu giảm xuống chậm. Điều trớ trêu là những công ty giá trị hay gặp “khó khăn” này đã vượt trội đáng kể so với các công ty tăng trưởng "lành mạnh" trong suốt thời gian dài như đồ thị dưới đây chỉ ra.


Biểu đồ 3: Lợi suất trung bình hàng năm 1975-2010

Nguồn số liệu: Dimensional Matrix Book 2011. Fama/French US CRSP Small Cap Index (US Small Value); Fama/French US CRSP Small Cap Growth Index (US Small Growth); Fama/French US CRSP Large Value Index (US Large Value); Fama/French US CRSP Large Growth Index (US Large Growth); MSCI EAFE Large Value Index (Int'l Large Value); MSCI EAFE Large Growth Index (Int'l Large Growth).

Phân bổ tài sản/ Đa dạng hóa 

Phân bổ tài sản và đa dạng hóa là quá trình bổ sung nhiều loại tài sản khác nhau về bản chất (cổ phiếu Mỹ vốn hóa nhỏ, cổ phiếu quốc tế, bất động sản , hàng hóa, trái phiếu toàn cầu, v.v ...) vào danh mục đầu tư với tỷ lệ phân bổ phù hợp. Kết hợp nhiều loại tài sản có mối tương quan khác nhau một cách hiệu quả có thể làm giảm đáng kể rủi ro của tổng thể danh mục đầu tư và nâng cao lợi suất kỳ vọng. Hàng hóa (như lúa mì, dầu mỏ, bạc, v.v ... ) được coi là có tương quan thấp với cổ phiếu, do đó chúng có thể kết hợp trong một danh mục đầu tư nhằm giảm rủi ro tổng thể danh mục đầu tư và nâng cao lợi suất kỳ vọng.

"The Lost Decade" (tạm dịch: Thập kỷ mất mát) đã trở thành cái tên chỉ thị trường chứng khoán từ năm 2000 đến năm 2010 khi chỉ số S&P 500 đạt 0.4% lợi suất trung bình hàng năm. Tuy nhiên, để đa dạng hóa danh mục đầu tư, nếu bạn lựa chọn các loại tài sản khác nhau có bản chất tương tự với các chỉ số sau đây, bạn sẽ thu được các kết quả rất khác biệt:

Asset Class Index

Lợi suất trung bình năm
(Tháng 1, 2000- Tháng 12, 2010)

S&P 500 Index

0,40%

US Small Cap Value Index

12,1%

DOW Jones UBS Commodity Index

8,0%

DOW Jones US Select REIT Index

12,1%

MSCI Emerging Markets Index

10,9%

Barclay's Capital US Govt/Credit
Intermediate Bond Index

5,9%

Tái cân bằng

Theo thời gian, danh mục đầu tư của bạn sẽ lệch khỏi tỷ lệ phân bổ ban đầu và cần được điều chỉnh trở lại cho phù hợp với các mục tiêu. Sự kết hợp 50 cổ phiếu /50 trái phiếu có thể dễ dàng trở thành 60 cổ phiếu /40 trái phiếu sau những biến động tăng giá trên thị trường chứng khoán. Việc điều chỉnh danh mục đầu tư quay trở lại mức phân bổ ban đầu được gọi là "tái cân bằng".

Tái cân bằng có thể được thực hiện theo ba cách:

  • Bỏ thêm tiền những cổ phiếu có tỷ trọng trong danh mục đầu tư thấp hơn tỷ trọng trong chỉ số tham chiếu.
  • Bán một phần cổ phiếu có tỷ trọng trong danh mục lớn hơn tỷ trọng trong chỉ số tham chiếu và lấy tiền này bù vào cổ phiếu đang thiếu hụt.
  • Rút tiền khỏi các loại tài sản có tỷ lệ vượt mức tỷ lệ trong chỉ số tham chiếu.

Tái cân bằng là một cách thông minh, hiệu quả và tự động để mua rẻ bán đắt, tránh được rủi ro khi cảm xúc chi phối quyết định đầu tư của bạn. Một nghiên cứu được thực hiện bởi Goldie & Murray trong năm 2010 trong giai đoạn từ 01 tháng 1 năm 1990 đến 31 Tháng 12 năm 2009, lấy một mẫu kết hợp điển hình 70 cổ phiếu/30 trái phiếu và xem xét các tác động của tái cân bằng danh mục đầu tư hàng năm so với việc để không danh mục đầu tư tương tự. Danh mục đầu tư được tái cân bằng có tổng lợi suất gộp là 449,23% còn danh mục đầu tư để không có tổng lợi suất là 366,62%. Tái cân bằng có thể mang lại hai lợi ích rất quan trọng: nâng cao hiệu suất danh mục đầu tư và đưa danh mục đầu tư của bạn trở về mức chấp nhận rủi ro ban đầu.

Lời kết

Dù cho đầu tư vào danh mục có trở nên phức tạp đến đâu trong vài thập kỷ qua thì vẫn còn một số công cụ đơn giản như đã đề cập ở trên với những bằng chứng về cải thiện kết quả đầu tư. Việc áp dụng các công cụ như hiệu ứng "giá trị" và "kích thước" cùng với sự phân bổ tài sản hợp lý có thể làm tăng lợi suất kỳ vọng lên đến 3-5% mỗi năm. Hãy nhớ tiết kiệm chi phí cho danh mục đầu tư vì nó sẽ làm tăng thêm lợi nhuận ròng của bạn thay vì rót tiền vào túi của các nhà quản lý đầu tư phố Wall.


Lều - Infographic

    INFLATION Lạm phát là một hiện tượng kinh tế khi mà...
    Xem thêm >>