4 Quan Niệm Sai Lầm Về Thị Trường Tự Do

13/12/2014 - 20:25 6526     0

Kinh tế thường bị coi là một ngành khoa học mơ hồ và mâu thuẫn.Tuy nhiên, kinh tế và các chính sách mà nó thúc đẩy ảnh hưởng đến mọi ngõ ngách trên thế giới. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu bốn quan niệm sai lầm nguy hiểm nhất luôn ám ảnh các nhà kinh tế học ủng hộ thị trường tự do kể từ thời Adam Smith.

Lạm phát là không thể tránh khỏi

Mọi người thường tin rằng lạm phát dường như là một hiện tượng tự nhiên. Thời xưa, bố của bạn chỉ phải trả 25 xu cho một bộ phim và ông nội của bạn trả 3 đô cho một bộ vét, nhưng ngày nay bạn phải trả 5 đô cho một tách cà phê Starbucks. Sự thật khó chấp nhận đó là lạm phát không hề xảy ra một cách tự nhiên. Lạm phát là sản phẩm của máy in tiền và, tệ hơn nữa, nó hoạt động như thuế phụ trội đánh lên thu nhập của người dân. Lạm phát có thể kiếm lợi cho một nhóm người cụ thể trong ngắn hạn. Ví dụ, một người nông dân có hét một giá rất cao cho hàng nông phẩm mình bán cho đến khi giá vật tư khác bắt kịp. Trong khi trong dài hạn thì lạm phát lại giúp cho chính phủ vì lạm phát giúp chính phủ các nước (vẽ ra thêm tiền để chi tiêu) trong khi giảm giá trị của các khoản mà chính phủ này đang nợ.

Chính vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà các chính phủ - đối tượng hưởng lợi cao nhất từ lạm phát, đồng thời cũng chính là những người vận hành máy in tiền lại hay than khổ về những "khó khăn" trong việc kiềm chế lạm phát. Có rất nhiều giải pháp khác nhau cho vấn đề lạm phát, nhưng theo các nhà phân tích động lực để ngăn chặn nó thì không có nhiều.

Thực ra, các chính phủ đã có thể làm được hơn

Giải pháp từ chính phủ đôi khi còn khiến cho vấn đề trở nên tồi tệ hơn. Hầu hết các giải pháp đều được nhận "pork-barrel" (từ tiếng lóng dùng để chỉ những dự án béo bở mà các chính trị tìm cách đem về đơn vị bầu cử mà họ đại diện để giành phiếu bầu). Điều này có nghĩa là những giải pháp này có đủ các thể loại điều khoản lãi suất riêng đặc biệt làm tăng chi phí và thiệt hại do sự can thiệp từ chính phủ. Nhiều biện pháp can thiệp của chính phủ đưa đến kết quả cuối cùng là việc thông qua chương trình nghị sự chính trị như một ưu tiên chính. Ở Hoa Kỳ, các cải cách "Chính sách mới" (New Deal) những năm 30 vô cùng tốn kém lúc bấy giờ, nhưng một trong những sáng tạo chính trị tồn tại đến tận bây giờ, Chính sách bảo hiểm xã hội (Social Security), đã trở thành gánh nặng thuế ngày một tăng kể từ đó. Trong nhiều trường hợp, giải pháp của chính phủ cho khủng hoảng kinh tế có thể biến thành chương trình vay nợ triền miên để phân phối lại tài sản (chính là tiền thuế của bạn) tới các khu vực nhằm mua chuộc sự ủng hộ chính trị.

Từ góc độ thị trường tự do, có vẻ như động cơ thực sự đằng sau các quyết định chính trị là để giúp cho những người ra quyết định giữ được vị trí của mình. Trách nhiệm tài chính được lờ đi một cách nhanh chóng nếu các phiếu bầu bị đe dọa. Thực tế thường bị bỏ qua chẳng làm mọi người mất hứng thú với sự can thiệp của chính phủ; hàng ngàn đô chi cho việc lắp đặt ghế ngồi bệ xí tại Lầu Năm Góc hay những cây cầu triệu đô chằng bắc tới đâu với hy vọng chũng sẽ có ích vào một ngày nào đó.

Thị trường tự do đồng nghĩa với không kiểm soát

Thị trường tự do là một cái tên có thể gây nhầm lẫn, bởi mọi người có xu hướng đánh đồng "tự do" với "vô tổ chức (không luật lệ, không kiểm soát)." Thật không may, ý nghĩa đúng của nó - "thị trường tự kiểm soát" là một cụm từ không thông dụng, vì vậy chúng ta vẫn mắc phải quan niệm sai lầm này. Thực tế, có rất nhiều dấu hiệu cho ta thấy một thị trường không được kiểm soát là như thế nào. Những ý kiến ​​đánh giá của người tiêu dùng về một sản phẩm, một chiếc xe ô tô chẳng hạn, là biểu hiện của những quy định không được đặt ra bởi chính phủ. Các nhà sản xuất xe hơi chú trọng tới ý kiến của khách hàng về chiếc xe của họ và họ thay đổi mẫu xe năm tới để loại bỏ những nhận xét không hay đó.

Các nhóm lợi ích người tiêu dùng và tiêu chuẩn công nghiệp tự thiết lập là hai sức mạnh mà các nhà kinh tế học theo trường phái thị trường tự do tin rằng có thể thay thế hầu hết các quy định của chính phủ, nhờ đó tiết kiệm tiền thuế của dân và giảm bớt các công việc hành chính cồng kềnh phức tạp mà lại cải thiện tình hình một cách hiệu quả và nhanh chóng hơn. Có thể hiểu là, mặc dù hai nhóm trên kiểm soát các quy định nhưng việc vận động hành lang của các nhóm người tiêu dùng và ngành có sức ảnh hưởng đến lập pháp thường bị coi là tốn kém và kém hiệu quả hơn.

Thuế không ảnh hưởng đến sản lượng

Đôi khi thuế được coi như một trò chơi tổng bằng không (zero-sum game). Chính phủ thu một khoản tiền nhất định từ tư nhân và sau đó dùng nó vào những việc khác tốt cho xã hội, vì vậy tổng các khoản tiền từ những hoạt động kinh tế là không thay đổi; chúng ta trả thuế và chúng ta được sử dụng hệ thống đường xá và trường học. Tuy nhiên, các nhà tư tưởng ủng hộ thị trường tự do cho rằng thuế có tác động kinh tế tiêu cực thông qua việc làm giảm động lực gia tăng sản xuất và, do đó, làm giảm sản lượng quốc gia.

Dù là lợi nhuận hay thu nhập cá nhân, thực tế là bạn càng kiếm được nhiều, tỉ lệ phần trăm trên tổng thu nhập mà bạn có thể giữ lại càng ít. Việc loại bỏ sự tăng thuế khi thu nhập tăng hoàn toàn là do lạm phát có thể xoa dịu vấn đề này nhưng khoản thuế mà chính phủ nghiễm nhiên lấy đi của bạn ngày càng lớn trong khi bạn phải làm việc cật lực để bắt kịp giá cả leo thang.

Mặc dù không phải tất cả mọi người đều phản ứng giống nhau trước thực tế này, nhưng tác động tổng thể có thể làm suy giảm sản xuất. Ngay cả chính phủ cũng hiểu rằng thuế có thể làm nền kinh tế trì trệ và thừa nhận điều đó khi áp dụng chính sách cắt giảm hoặc trả lại thuế tạm thời (1-5 năm) để kích thích nền kinh tế. Tuy nhiên, chính phủ nào cũng muốn thu được tiền từ thuế. Mỗi khi thu nhập thuế tăng, chính phủ lại mở rộng chi tiêu để sử dụng hết, rồi phát hành tiếp các giấy nhận nợ (I.O.U) nhằm thu nhiều hơn nữa.

Thay vì sử dụng các biện pháp giảm thuế tạm thời để thúc đẩy nền kinh tế tăng sản xuất, giải pháp thay thế hiệu quả cho một thị trường tự do sẽ là giảm chi tiêu chính phủ và giảm bớt gánh nặng thuế. Xét cho cùng, hầu như tất cả các giai đoạn phát triển và thịnh vượng nhất trong thời bình đều đi kèm theo sau những đợt cắt giảm thuế đáng kể.

Lời kết

Bất chấp những phản đối kịch liệt, ý kiến ​​học thuật luôn tuân theo các quy luật cung cầu. Học thuyết kinh tế của Adam Smith, Fredrik Hayek và Milton Friedman rất đơn giản, rõ ràng, và đưa ra giả thuyết về một thế giới lý tưởng với mức thuế thấp, sự tự điều chỉnh và đồng tiền mạnh. Mong muốn kiểm soát máy in tiền của các chính phủ đi ngược với dòng học thuyết kinh tế này. Vì vậy, cần có các lý thuyết phản biện nhau mà, trái với kinh nghiệm, giải quyết được vấn đề thâm hụt ngân sách, kích thích kinh tế của chính phủ, mục tiêu lạm phát và chi tiêu công lớn.

Việc phơi bày những sai lầm sẽ đem lại tác động tốt, nhưng để có sự thay đổi thật sự thì thật là khó bởi lợi ích từ lạm phát quá lớn nên các chính phủ khó lòng mà "thực sự" tìm cách kiềm chế nó.