Cuối tháng 12/2007, Bộ Tài chính sẽ tiến hành lấy ý kiến các thành viên liên quan để ban hành thông tư hướng dẫn giao dịch điện tử trên thị trường chứng khoán.
Theo dự thảo của thông tư này, các công ty chứng khoán muốn triển khai dịch vụ này phải đảm bảo những điều kiện về công nghệ, bảo mật cũng như những yêu cầu trong hoạt động giao dịch tài chính.
Cụ thể, giao dịch chứng khoán trực tuyến được xác định trong dự thảo là dịch vụ do các công ty chứng khoán cung cấp thông qua mạng Internet, điện thoại; thông qua dịch vụ này, nhà đầu tư có thể mở tài khoản, đặt lệnh, đưa ra yêu cầu đối với các giao dịch chứng khoán và nhận thông báo kết quả của các giao dịch đó.
Các chứng khoán được phép thực hiện dịch vụ giao dịch trực tuyến là các chứng khoán được niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán và các chứng khoán của công ty đại chúng được giao dịch tại những đầu mối này.
Để triển khai, công ty chứng khoán phải tạo một trang thông tin điện tử với địa chỉ xác định trên mạng Internet đóng vai trò như một cổng vào cho dịch vụ giao dịch trực tuyến.
Với nhà đầu tư, yêu cầu đầu tiên là phải mở tài khoản theo quy định của pháp luật tại trang thông tin điện tử của một công ty chứng khoán có thể thực hiện dịch vụ giao dịch trực tuyến sau khi đăng ký và thực hiện những thủ tục pháp lý cần thiết.
Khi thực hiện giao dịch chứng khoán trực tuyến, nhà đầu tư có thể sử dụng phiếu lệnh điện tử, trong đó phiếu lệnh điện tử phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn quy định theo Nghị định 27/2007/NĐ-CP ngày 23/2/2007 về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính.
Nhiệm vụ của các công ty chứng khoán là phải tự xử lý các thủ tục của dịch vụ giao dịch trực tuyến, không được uỷ quyền cho các tổ chức khác. Các công ty chứng khoán không được phép hợp tác với các công ty cung cấp dịch vụ kỹ thuật hoặc dịch vụ thông tin trong việc thực hiện dịch vụ giao dịch chứng khoán trực tuyến thông qua việc thanh toán chi phí dịch vụ.
Các công ty chứng khoán cũng phải ban hành quy trình thực hiện dịch vụ giao dịch trực tuyến phù hợp với Luật Giao dịch điện tử và phải ký một hợp đồng bằng văn bản với khách hàng quy định rõ các trách nhiệm pháp lý của cả hai bên. Công ty chứng khoán phải nêu rõ các rủi ro liên quan đối với nhà đầu tư dưới hình thức một “Bản công bố rủi ro” đính kèm hợp đồng.
Trong giao dịch, công ty chứng khoán phải lưu trữ, đảm bảo tính toàn vẹn của các chứng từ điện tử, phiếu lệnh điện tử, dữ liệu điện tử và ghi âm các cuộc điện thoại đặt lệnh của khách hàng ít nhất là 15 năm.
Công ty chứng khoán có trách nhiệm bảo mật thông tin của các tổ chức, cá nhân tham gia giao dịch trực tuyến theo quy định của pháp luật; không được phép công bố ra bên ngoài trang kinh doanh hợp pháp các chương trình hoặc hệ thống liên quan đến tài khoản tiền, chứng khoán, thông tin nhận dạng và các dữ liệu khác của nhà đầu tư.
Để phòng ngừa khả năng giao dịch trực tuyến gặp sự cố, các công ty chứng khoán phải cung cấp những phương pháp giao dịch thay thế dự phòng cho nhà đầu tư…
Theo quy định tại dự thảo thông tư nói trên, các công ty chứng khoán không được cung cấp dịch vụ giao dịch trực tuyến về chuyển nhượng các nguồn lực tài chính, chuyển nhượng và uỷ thác mua bán chứng khoán.
Đặc biệt, các công ty chứng khoán phải công bố những rủi ro có liên quan trên “Bản công bố rủi ro”, trên trang thông tin điện tử chính thức của công ty và trên phần mềm ứng dụng của khách hàng.
Những rủi ro được công bố phải bao gồm rủi ro trong khi truyền tải qua mạng Internet, lệnh giao dịch có thể bị treo, bị ngừng, bị trì hoãn, hoặc có lỗi dữ liệu; việc nhận dạng các tổ chức hoặc nhà đầu tư có thể không chính xác, lỗi về bảo mật có thể xảy ra; giá cả thị trường và các thông tin chứng khoán khác có thể có lỗi hoặc sai lệch; các rủi ro khác mà các cơ quan quản lý chứng khoán, công ty chứng khoán có thể thấy cần thiết phải công bố...
|
Ngày 23-2-2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định 27/2007/NĐ-CP về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính. Các tổ chức, cá nhân có tham gia giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính với cơ quan tài chính phải sử dụng chữ ký số và chứng thư số do Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng cung cấp.
Theo Nghị định, chứng từ điện tử chỉ được hủy khi có sự đồng ý và xác nhận của các bên tham gia giao dịch, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác; việc tiêu hủy chứng từ điện tử có hiệu lực theo đúng thời hạn do các bên tham gia đã thỏa thuận. Chứng từ điện tử đã hủy phải được lưu trữ phục vụ việc tra cứu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chứng từ điện tử đã hết thời hạn lưu trữ theo quy định, nếu không có quyết định khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được phép tiêu hủy. Việc tiêu hủy chứng từ điện tử không được làm ảnh hưởng đến tính toàn vẹn của các chứng từ điện tử chưa tiêu hủy và phải đảm bảo sự hoạt động bình thường của hệ thống thông tin.
Chứng từ điện tử bị niêm phong, tạm giữ, tịch thu phải theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và thực hiện các biện pháp niêm phong, tạm giữ, tịch thu chứng từ điện tử thì tổ chức, cá nhân không được phép khai thác, sử dụng, sửa đổi chứng từ điện tử này trong hệ thống thông tin của mình để giao dịch hoặc sử dụng cho mục đích khác.
Chứng từ điện tử được gửi, nhận và xử lý giữa cá nhân với hệ thống thông tin tự động hoặc giữa các hệ thống thông tin tự động với nhau không bị phủ nhận giá trị pháp lý. Tổ chức, cá nhân chịu toàn bộ trách nhiệm trong việc sử dụng hệ thống thông tin tự động trong các hoạt động tài chính của mình. Khi cần thiết, chứng từ điện tử có thể chuyển sang chứng từ giấy và ngược lại nhưng phải đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định giá trị pháp lý của các chứng từ điện tử chuyển sang chứng từ giấy và ngược lại cho từng loại hoạt động tài chính.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý theo quy định của pháp luật các vi phạm về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính.
Trước đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 26/2007/NĐ-CP (ngày 15-2-2007) quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số. Theo đó, trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần có chữ ký thì yêu cầu đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bằng chữ ký số. Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần được đóng dấu của cơ quan, tổ chức thì yêu cầu đó đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bởi chữ ký số của người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng con dấu và chữ ký số đó được bảo đảm an toàn theo quy định. Chữ ký số và chứng thư số nước ngoài được công nhận theo quy định tại Nghị định này có giá trị pháp lý và hiệu lực như chữ ký số và chứng thư do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng của Việt Nam cấp.
|
|
Nguồn: Wesite Chính phủ
|