Giáo dục, trường lớp, bằng cấp,… có lẽ không chỉ là vấn đề quan tâm hàng đầu của các bậc phụ huynh hay các sĩ tử nói riêng mà của xã hội nói chung. Bởi vì “giáo dục luôn tiên phong đào tạo những chủ nhân tương lai của đất nước”, và rằng “Bằng cấp tốt có thể đảm bảo cho sinh viên ra trường một công việc với mức lương ổn định”…Trong hệ thống giáo dục, giáo dục đại học chắc chắn giữ vai trò quan trọng nhất. Tôi muốn xin trình bày từ góc nhìn của một sinh viên về vai trò và hiệu quả của giáo dục đại học.
1. Giáo dục Đại học đi trước?
Theo thống kê, cứ sau 5 năm, lượng thông tin trên thế giới lại lớn gấp đôi. Thế giới thay đổi từng phút từng giây, Việt Nam chúng ta cũng đang phải đối mặt với những thách thức khó khăn cũng như cơ hội khi gia nhập tổ chức kinh tế thế giới WTO. Phân công lao động xã hội, cơ cấu ngành nghề, đặc tính người lao động,... đang dần được thay đổ. Trong khi vai trò của ngành giáo dục là đào tạo nghề cho lực lượng lao động của tất cả các ngành thì vẫn có băn khoăn không nhỏ về khả năng theo kịp bước tiến tri thức và công nghệ thế giới của các giáo trình được soạn từ khá lâu, tái bản lại nhiều lần mà đa phần sinh viên đang sử dụng. Câu hỏi trước tiên cần giải đáp là giáo dục có tầm nhìn xa và đi trước đón đầu hay đang “lẽo đẽo” theo sau? 
2. Có bằng Đại học là không thất nghiệp?
Nếu có người khẳng định điều trên đây là đúng thì có lẽ sẽ có nhiều người không đồng tình, phản bác hoặc cười trừ.
Đã từ lâu, tấm bằng đại học không còn là “lá bùa” đảm bảo cho công ăn việc làm ổn định. Thời kỳ cung lao động ít hơn so với cầu, khi mà sinh viên được coi như “nhân tài như lá mùa thu” đã qua. Thời bây giờ, một phần không nhỏ sinh viên ra trường đang phải chật vật với mối lo “công ăn việc làm”, “cơm áo gạo tiền”.
Khi nghe tôi kể rằng “chị bán bánh rán mà tôi thường ghé qua thưởng thức mỗi chiều vẫn đang giữ tấm bằng Đại học trong tủ” thì các bạn sẽ coi đó là chuyện cười nho nhỏ hay là chuyện đáng buồn? Theo số liệu điều tra lao động việc làm do bộ Lao động và Thương binh xã hội, Tổng cục thống kê năm 2004, lao động đã tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp và Đại học, cao đẳng lại có tỷ lệ thất nghiệp rất cao, từ 3,8% - 4,4%, theo số liệu thu được năm 2006 thì tỷ lệ này đã lên đến trên 5%. Con số thống kê từ một lớp báo chí (Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN) đã ra trường thì trong 100 sinh viên có khoảng 30 người theo nghề báo, 19 sinh viên làm PR (quan hệ công chúng cho các công ty), 11 sinh viên làm trái nghề, 12 người vẫn thất nghiệp và khoảng 8 người “bỏ cuộc chơi” để theo chồng… Tại sao vậy? Tôi nghĩ vấn đề dưới dây có thể phần nào giúp trả lời câu hỏi này.
3. Tính “thực tiễn” của giáo dục Đại học Việt Nam?
Đã có nhiều phân tích và đánh giá cho rằng hệ thống giáo dục Việt Nam (không chỉ riêng bậc đại học) có tính “hàn lâm” cao. Vẫn tồn tại những bài học có hàm lượng lý thuyết lớn, trong khi thời gian giảng dạy và thảo luận lại tương đối hạn chế. Trong nhiều trường hợp, để theo kịp với lượng kiến thức lớn được yêu cầu phải truyền đạt, giảng viên đành phải bỏ qua những thời gian trao đổi, thảo luận để quay lại cách giảng truyền thống “đọc và chép” sap cho hoàn thành đúng tiến độ.
Phương pháp “đọc và chép” hiện vẫn áp dụng rộng rãi ở cấp I, cấp II, cấp III và cả cấp Đại học. Đây là mảnh đất màu mỡ để phát triển dạng tư duy “học vẹt”, tạo cơ sở để tư duy này được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Trong một lần kiểm tra bài cậu em môn sử học, tôi ngỡ ngàng khi em mình đọc vanh vách “Chủ nghĩa phong kiến phát triển, bành chướng và tìm kiếm thuộc địa, trong khi đó chủ nghĩa tư bản Việt Nam đang đến hồi suy tàn, nhu nhược…” (có lẽ vẫn chưa kinh khủng bằng những áng văn bất hủ trong thi cử đang được tuyên truyền trên mạng). Càng chạnh lòng hơn khi tôi đọc những trang báo hùng hồn rằng “nhờ chính sách của Đảng và nhà nước, GDP của xã năm nay tăng…” (GDP là tổng sản phẩm quốc nội - số liệu tính cho cả nước). Câu hỏi: “Học và chép” rất nhiều nhưng hiểu và áp dụng được thì bao nhiêu?” Có lẽ rất khó đưa ra lời giải thoả đáng.
Một may mắn tình cờ đưa tôi đến chương trình “Giờ cao điểm” (trực tiếp, 8 giờ tối thứ 3 hàng tuần, VTV1) trong hai chương trình bàn về “Thay đổi tư duy trong giáo dục Đại học Việt Nam”. Hai chương trình với thời lượng tổng cộng hơn 60 phút đã chỉ ra một số vấn đề như “độ chuẩn hoá của giáo dục Việt Nam so với các nước trên thế giới”, “tính thực tế, học đi đôi với hành”, “phương pháp “đọc và chép” liệu còn có chỗ đứng”…
Giáo dục là vấn đề của quốc gia, của mọi nhà, mọi người,…và chắc chắn rằng “mọi ý tưởng, kế hoạch không thể thực hiện thành công bởi một vài cá nhân”. Tôi chỉ mong rằng sẽ có những đóng góp, phản hồi được đưa ra, những ý tưởng, giải pháp nảy sinh và những “khối óc”, “bàn tay” sẵn sàng vào cuộc.
(Từ góc nhìn một sinh viên)