Tìm kiếm  
 
Kinh tế học Mô hình toán Thương mại Kinh tế lượng
Bạn đang ở :  Trang chủ » Kiến thức KD » Kinh tế học kinh doanh » Kinh tế học

Tin Tức Kinh Tế - Tài Chính

Saga-Việc Làm

THẾ GIỚI KINH DOANH

CUỘC SỐNG

THUẬT NGỮ

 

SỰ KIỆN - CHUYÊN ĐỀ

BÀI HAY

Lạm phát !!!
Lý thuyết bộ ba bất khả thi
Các xu thể phát triển kinh tế thế giới ngày nay
Chi phí cơ hội và chênh lệch cơ hội
Lỗ hổng của bàn tay vô hình
Các trường phái kinh tế học hiện đại
Kinh tế học vi mô: Sự phân phối thu nhập
Tăng trưởng kinh tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Giảm thâm hụt ngân sách để khôi phục sự ổn định vĩ mô
Thành công của Iphone - nhìn từ góc độ chiến lược "Đại dương xanh"
... Xem toàn bộ

BÀI BÌNH CHỌN

  Lạm phát !!!  
  Tranh luận qua các báo về Thế Giới Phẳng của Thomas L. Friedman  
  Chính phủ trong nền kinh tế thị trường  
  Ôi, kinh tế học  
  Lỗ hổng của bàn tay vô hình  
  Những câu chuyện về ô tô và lý thuyết kinh tế  
  Lý thuyết bộ ba bất khả thi  
  Bàn luận tiếp về ý kiến của Kubrik với cuốn sách Thế giới phẳng của Thomas L. Friedman  
  Tăng trưởng kinh tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam  
  Chiếc Lexus và cây lúa  
... Xem tất cả
 
ĐĂNG NHẬP
  Tên truy cập:
  Mật khẩu:

Quên mật khẩu

Tại sao Saga?

1 Bài viết vàng / 17 Bài viết bạc

  Liên hệ nóng:
YM: sagarina 
sagavietnam 
     Email: info@saga.vn

 

Người gửi: JackPhi  --   31/05/2007 12:42 AM    

Lạm phát !!!

( Bình chọn: 16   --  Thảo luận: 12 --  Số lần đọc: 45453)

Trong kinh tế học, lạm phát là hiện tượng giảm mãi lực của đồng tiền. Điều này cũng đồng nghĩa với “vật giá leo thang”, giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao khiến với cùng một số lượng tiền, người tiêu thụ mua được ít hàng hóa hơn hoặc phải trả một giá cao hơn để hưởng cùng một dịch vụ.

Một khái niệm khác về lạm phát là khối lượng tiền được lưu hành trong dân chúng tăng lên do nhà nước in và phát hành thêm tiền vì những nhu cầu cấp thiết (chiến tranh, nội chiến, thâm thủng ngân sách v.v...). Trong khi đó, số lượng hàng hoá không tăng khiến dân chúng cầm trong tay nhiều tiền quá sẽ tranh mua khiến giá cả tăng vọt có khi đưa đến siêu lạm phát. Những ví dụ cùng cực nhất của siêu lạm phát đã xảy ra tại Đức trong những năm đầu thập niên 1920 khi tỉ lệ lạm phát lên tới 3.25 x 106 mỗi tháng, có nghĩa là giá cả tăng gấp đôi mỗi 49 tiếng đồng hồ hoặc tại Hungary sau Thế chiến thứ hai với tỉ lệ lạm phát 4.19 x 1016 (giá cả tăng gấp đôi mỗi 15 giờ đồng hồ).

Để đo lường tỉ lệ lạm phát, người ta thường dùng hai chỉ số:

  • Chỉ số giá cả sản xuất PPI (Producer Price Index). Đây là chỉ số giá thành sản xuất của một số mặt hàng và dịch vụ tiêu biểu. Mang so sánh với thời kỳ trước để tính ra tỉ lệ tăng giảm như thế nào. Chỉ số PPI tuy có thể là dấu báo hiệu hiện tượng lạm phát nhưng chưa hẳn lạm phát sẽ bắt buộc phải xảy ra.
  • Chỉ số giá cả tiêu thụ CPI (Consumer Price Index). Chỉ số giá cả của một số nhu yếu phẩm và dịch vụ tiêu biểu. Chỉ số CPI cho biết tỉ lệ lạm phát thật sự đang xảy ra khi so sánh với thời kỳ trước đó.
inrate.jpgẢnh hưởng của lạm phát đối với nền kinh tế

Lạm phát khó có thể là một điều tốt lành cho nền kinh tế trừ trường hợp ở mức độ nhẹ và trong tầm kiểm soát của chính phủ. Ví dụ, hàng năm chính phủ có thể phát hành thêm một lượng tiền mới để tiêu xài cho những chương trình công cộng hoặc giải quyết thiếu hụt ngân sách khiến đồng tiền được xoay vòng tạo ra thêm của cải, trực tiếp đẩy cao tổng sản lượng quốc dân GDP (Gross Domestic Product) lên thêm một mức. Dĩ nhiên nếu quá đà sẽ có nguy cơ gây ra lạm phát nặng hoặc siêu lạm phát và làm các hoạt động kinh tế sẽ bị tê liệt.

Nhiều người quan niệm việc chính phủ in thêm tiền trong giới hạn cho phép của nền kinh tế là một hình thức thu “thuế lạm phát”. Chính phủ sử dụng khoản phụ trội này để quân bình ngân sách với hi vọng sang năm kinh tế tiếp tục phát triển sẽ được nộp ngân sách nhiều hơn.

Một chút lạm phát cũng khiến doanh nghiệp kiếm thêm lợi nhuận vì thông thường từ khâu nhập nguyên liệu (giá trước lạm phát) đến lúc hoàn thành sản phẩm bán được cao giá hơn cũng tốt thêm cho doanh vụ.

Ngoài những trường hợp kể trên, bao giờ lạm phát cũng có ảnh hưởng xấu đối với kinh tế. Tỉ lệ lạm phát bao nhiêu là vừa phải cũng tùy thuộc vào tình hình phát triển kinh tế của từng nơi, đặc điểm của nền kinh tế của từng quốc gia khác nhau. Theo lẽ thông thường thì tỉ lệ lạm phát nếu giữ được ở mức thấp hơn tỉ lệ phát triển kinh tế thì là điều tốt. Do đó, các quốc gia đang ở giai đoạn kinh tế cất cánh (tỉ lệ phát triển xấp xỉ 10%) có thể chấp nhận một tỉ lệ lạm phát cao hơn các quốc gia đã phát triển (tỉ lệ phát triển dưới 5%).

Nguyên nhân đưa đến lạm phát

Có nhiều trường phái kinh tế khác nhau đưa ra các lý thuyết về nguyên nhân đưa đến lạm phát, trong số đó trường phái Neo-Keynesian có vẻ được chấp nhận hơn cả với “mô hình tam giác” nói lên ba dạng lạm phát chính và những nguyên nhân của nó:
  • Lạm phát do nhu cầu tăng (Demand-pull inflation). Lạm phát do nhu cầu sản xuất và dịch vụ (gọi chung là Tổng Thu Nhập Quốc Dân GDP) tăng trong khi tỉ lệ thất nghiệp còn thấp. Còn gọi là Phillips Curve - đường cong Phillips. Nói cách khác là khi nhu cầu kinh tế tăng mà thị trường lao động bị hạn chế sẽ gây lạm phát.
  • Lạm phát do đột biến giá cả (Cost-push inflation). Giá cả một số nguyên vật liệu trọng yếu, ví dụ giá dầu hoả, tăng cao bất thường có thể đưa đến lạm phát vì hiện tượng dây chuyền, các mặt hàng khác sẽ tăng theo.
  • Lạm phát sẵn có tự nhiên (Built-in inflation). Lạm phát sẵn có, liên quan đến hiện tượng “vòng xoắn giá/lương” (price/wage spiral) nghĩa là hiện tượng công nhân luôn luôn muốn được trả lương cao hơn (dĩ nhiên rồi), chủ bắt buộc phải trả thêm vì không tìm đâu ra công nhân nữa, kinh tế phát triển nên ai cũng có công ăn việc làm cả rồi. Người chủ muốn chuyển chi phí phụ trội này qua người tiêu thụ nên tăng giá sản phẩm lên. Công nhân, đồng thời là người tiêu thụ, thấy giá lên lại đòi lương cao hơn nữa. Cái vòng luẩn quẩn này cuối cùng gây ra lạm phát.

Cả ba dạng này có thể cộng hưởng và tạo ra mức lạm phát hiện hành của nền kinh tế của một quốc gia.

Tác hại của lạm phát đối với kinh tếbxp40398.jpg

Đối với các quốc gia đang phát triển, tác hại dễ thấy nhất là lạm phát phủ định (negate) tăng trưởng kinh tế nếu bằng hay cao hơn tăng trưởng kinh tế. Ví dụ theo World Factbook, nếu một nền kinh tế tăng trưởng kinh tế ở mức 8.4% nhưng tỉ lệ lạm phát lên tới 8.3%. Như vậy, trung bình người dân có thu nhập cao hơn 8.4% nhưng đời sống sinh hoạt mắc hơn 8.3% cùng thời kỳ thì coi như cũng không tích lũy được gì. Tiêu chuẩn đời sống không được cải thiện bao nhiêu. Nếu không có biện pháp ngăn chận, lạm phát sẽ làm tê liệt dần bộ máy kinh tế vì doanh nhân sẽ không thiết tha hoạt động sản xuất nữa vì không có lợi nhuận. Tâm lý chung sẽ chỉ mua bán “chụp giựt” và chuyển tài sản thành kim loại quý hay ngoại tệ mạnh để tránh lạm phát. Điều này rõ ràng không có lợi cho sự xoay vòng của đồng tiền để phát triển nền kinh tế.

Đối với các quốc gia công nghiệp (industrialized countries) mà xã hội đã chuyển qua dạng xã hội tiêu thụ rồi thì lạm phát tác hại theo một qui trình 3 bước:

Lạm phát (inflation) - Giảm phát (deflation) – Suy thoái kinh tế (economic recession).

Lạm phát không kiểm soát nổi sẽ đưa đến tình trạng giá thành các mặt hàng tăng cao. Giá hàng hóa lên cao sẽ làm giảm nhu cầu tiêu thụ. Hàng hoá trở nên dư thừa và ế ẩm. Để sống còn, công ty sản xuất phải chịu lỗ, hạ giá bán và thu nhỏ hoạt động lại. Một số hãng xưởng sẽ phải đóng cửa và công nhân bị sa thải ra làm nhu cầu chung về tiêu thụ lại càng giảm nữa. Đến đây bắt đầu giai đoạn giảm phát. Hàng hoá sẽ xuống giá cho đến khi nào tìm được một sự quân bình mới giữa cung cầu. Lúc đó kinh tế đi vào giai đoạn suy thoái và tiêu chuẩn sống (standards of livings) của người dân bị giảm sút.

Sự tác hại của lạm phát đối với kinh tế sau một thời gian âm ỉ có tính cách bùng nổ như một cơn bệnh cấp tính. Điển hình nhất là cơn đại khủng hoảng kinh tế 1929 tại Mỹ. Chỉ trong một một ngày, giá trị thị trường chứng khoán Mỹ bị mất đi gần một nửa và kinh tế Mỹ bước vào một giai đoạn suy thoái thảm não kéo dài gần hai thập niên sau đó.

Cách chống đỡ lạm phát theo kiểu Mỹ

  • Giao quyền hạn cho Cục Dự trữ Liên Bang (Federal Reserves) còn gọi là Ngân Hàng
    greenspan.jpg
    Alan Greenspan -
    Cái tên gắn liên với FED

    Trung Ương (Central Bank) nhiệm vụ theo dõi tình hình phát triển kinh tế và lạm phát để kịp thời đề ra những biện pháp thích nghi. Vũ khí chính của Cục Dự trữ Liên Bang (FED) là lãi suất cho vay. Khi nào muốn kích thích kinh tế thì giảm lãi xuất xuống. Ngược lại khi thấy có dấu hiệu lạm phát thì tăng lãi xuất, kềm hãm sản xuất lại, không để lạm phát có cơ hội phát triển. Một biện pháp khác của FED là tăng hay giảm lưu lượng (liquidity) đồng dollar đang lưu hành trong dân chúng. Khi cần rút bớt lưu lượng tiền, FED sẽ bán đấu giá trái phiếu kho bạc (bonds) của chính phủ nhiều hơn. Khuynh hướng tự nhiên là sẽ giảm hoạt động kinh tế vì các nhà đầu tư giữ công khố phiếu để lấy lời, không sẵn tiền để hoạt động sản xuất nữa. Ngược lại khi muốn kích thích kinh tế, FED có thể thu mua trái phiếu và tung thêm tiền vào lưu lượng sẵn có.
  • Mở rộng thị trường lao động bằng cách đưa ra nước ngoài (outsource) một số kỹ nghệ không có tính cách quốc phòng.
  • Thỏa hiệp giữa các nghiệp đoàn chủ nhân và thợ thuyền về lương để đôi bên cùng có lợi, phần nào ổn định mặt chi phí về lương (cộng thêm phúc lợi có thể chiếm đến ¾ giá thành sản phẩm tại Mỹ).
  • Ổn định các khu vực nóng để kiểm soát các nguồn nguyên liệu tối cần thiết như dầu hỏa, than mỏ.
  • Giữ gìn trật tự toàn cầu, không để những đột biến chính trị và khủng bố làm mất ổn định khu vực.

S.T

 
Bookmark and Share
  File gắn kèm:
 
  File download:
 
Điểm trung bình:           Tổng điểm: 71/ 16 lượt bình chọn
Bình chọn:
 

+ Thêm vào Bài viết ưa thích +   

+ Xóa bỏ việc nhận tin nhắn thông báo khi có thảo luận mới cho bài viết này +   
 
Bổ sung nội dung cho bài viết và tranh luận( 12)
  nguyenvany1248 (22/02/2010 10:54 AM) Có ích: 2/2    
 
© SAGA - Lạm phát ? -  Đơn giản lạm phát là một biện pháp bắt buộc của bất kỳ chính phủ nào, nó là công cụ để chính phủ lấy không tiền trong nhân dân, từng nhà, từng người, từng đồng tiền đều bị lấy đi để bù vào những khoản thâm hụt cho ngân sách, thậm chí thêm tiền để thực hiện chính sách phát triển. Bởi vậy, không đồng tiền nào, dù mạnh đến đâu cũng không giữ được giá trị mãi. Điều cần quan tâm là kinh doanh rất cần sự di chuyển của dòng tiền nhưng dứt khoát và không bao giờ nó là nơi trú ẩn của tài sản.
 
   
     
  ngocngoctan (20/02/2010 04:03 PM) Có ích: 1/2    
 
© SAGA - Giải pháp mới về lạm phát -  Phản hồi bài viết của anh dothientuan (13/02/2008 10:09 AM)

Tìm hiểu thêm về lạm phát - Chào bạn dothientuan và các bạn SAGA,

Cho đến nay, lạm phát vẫn là vấn đề lớn mà thế giới này vẫn chưa giải quyết được. Tôi đồng ý với anh dothientuan: để hiểu rõ hiện tượng lạm phát trước hết chúng ta cần phải hiểu được bản chất của tiền tệ (tiền dấu hiệu, tiền giấy) là gì. Nếu bạn có quan tâm về lạm phát và tìm hiểu thực chất tiền tệ (tiền dấu hiệu, tiền giấy) là gì, bạn có thể tham khảo thêm tại địa chỉ:
http://nguyencaodung.wordpress.com/2010/02/04/ch%C6%B0%C6%A1ng-1-nguyen-nhan-gay-ra-l%E1%BA%A1m-phat/
 
   
     
  tuanntss (08/01/2010 11:20 PM) Có ích: 2/2    
 
© SAGA - Buồn... -  Ở nước ngoài, mức sống người dân tăng trưởng thấp, nhưng họ ngày càng có thể hưởng thụ nhiều hơn do tăng trưởng -> lạm phát. Nhưng ở Việt Nam thì thật đáng buồn là tăng trưởng cao đấy và lạm phát còn cao hơn thế. Vậy thì không biết chúng ta đang giàu lên vì tăng trưởng, hay đang nghèo đi vì ngày càng phải tiết kiệm trong chi tiêu? Buồn...
 
   
     
  kitty116 (26/07/2009 10:27 AM) Có ích: 2/2    
 
© SAGA - Re: Lạm phát -  Tôi hoàn toàn đồng tình với ý kiến của bạn phamngoccuong. Mặc dù có 2 thước đo lạm phát, nhưng thước đo CPI  được các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế và người dân quan tâm nhiều hơn, bởi nó liên quan trực tiếp đến mức sống của một người tiêu dùng (điển hình).
- Giỏ hàng tính CPI của Việt nam được áp dụng từ 01/5/2006 gồm 10 nhóm hàng. Trong đó : Lương thực thực phẩm chiếm tỷ trọng 42.85%; đồ uống và thuốc lá 4,56%; may mặc, mũ nón, giày dép 7,21%; nhà ở và VLXD 9,99%; Thiết bị và đồ dùng gia đình 8,62%; Dược phẩm, y tế 5,42%; Phương tiện đi lại, bưu điện 9,04%; Giáo dục 5,41%; Văn hoá, thể thao, giải trí 3,59%; đồ dùng, dịch vụ khác 3,31%.
- DGDP có tính đến sự thay đổi giá của hàng đầu tư và hàng hoá do chính phủ mua, và chỉ đo mức giá của mọi hàng hoá SX trong nước, không tính đến giá hàng nhập khẩu. Còn CPI chỉ đo lường chi phí sinh hoạt (không tính đến giá của máy móc, nhà xưởng, vũ khí, thiết bị quân sự; nhưng lại tính đến giá hàng nhập khẩu). Mặt khác nữa giữa chỉ số DGDP và CPI là CPI tính trên cơ sở giỏ hàng hoá cố định, còn DGDP dựa trên giỏ hàng hoá thay đổi.
Để đánh giá lạm phát, theo tôi nên quan tâm cả 2 chỉ số DGDP và CPI, tuỳ theo điều kiện cụ thể mà vận dụng cho phù hợp.
 
   
     
  gahoangdai (28/10/2008 09:58 PM) Có ích: 3/3    
 
© SAGA - Gởi đến anh Đổ Thiên Tuấn -  Cảm ơn về bài viết của anh. Thật sự là tôi đọc không hiểu lắm. Nhưng tôi nghĩ điều quan trọng anh muốn nói ở đây là: Phát hành thêm quá nhiều tiền trong khi hàng hóa của thị trường không đáp ứng đủ lượng tiền được phát hành. Không biết suy nghĩ của tôi có đúng không. Mong nhận được hồi âm từ anh Tuấn.
 
   
     
  phamngoccuong (30/03/2008 05:45 AM) Có ích: 3/3    
 
© SAGA - Hai chỉ số thống kê lạm phát -  Có lẽ nhờ bạn chỉ giáo thêm!!! Tôi được hiểu Lạm phát theo hai khía cạnh: lạm phát là sự suy giảm sức mua trong nước của đồng nội tệ hoặc là sự gia tăng liên tục trong mức giá chung. Để đo lường tỉ lệ lạm phát người ta thường dùng 2 chỉ số: chỉ số điều chỉnh GDP (DGDP) và chỉ số giá tiêu dùng(CPI) để đo lường mức giá chung.

Trong đó:
: Tỷ lệ lạm phát của thời kỳ t (có thể là tháng, quí, năm)
: Mức giá của thời kỳ t
: Mức giá của thời kỳ trước đó

Như vậy với việc chọn mức giá P là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hay mức giá P là chỉ số điều chỉnh GDP cho ta biết cùng một vấn đề nh¬ưng có sự khác biệt quan trọng, không đồng nhất với nhau. Khi nào dùng chỉ số CPI để tính lạm phát và khi nào dùng chỉ số DGDP để tính chỉ số lạm phát?

Sự khác biệt thứ nhất là chỉ số điều chỉnh GDP phản ánh giá của mọi hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong nước, trong khi đó chỉ số giá tiêu dùng phản ánh giá của mọi hàng hoá và dịch vụ của người tiêu dùng mua.

Sự khác biệt thứ hai Chỉ số giá tiêu dùng so sánh giá của một giỏ hàng hoá (Education, Medical, Recratio, Apprel, Housing, Transportation, Food and beverages) và dịch vụ cố định trong năm hiện tại với giá của giỏ hàng hoá đó trong năm gốc. Rất hiếm khi Cục thống kê thay đổi giỏ hàng. Ngược lại, chỉ số điều chỉnh GDP so sánh giá của của những hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra trong năm hiện tại với giá của cũng những hàng hoá và dịch vụ đó trong năm gốc.

Giả sử hãng Toyota tăng giá xe hơi bán ra tại Nhật do Toyota được sản xuất tại Nhật nên không thuộc GDP Việt Nam như¬ng ng¬ời tiêu dùng Việt Nam lại mua xe của Toyota và do vậy nó nằm trong giỏ hàng hoá của người tiêu dùng đại diện. Cho nên dẫn đến sự gia tăng của hàng tiêu dùng nhập khẩu. Ví dụ vừa nêu được phản ánh lại trong chỉ số giá tiêu dùng nhưng không ảnh hưởng tới chỉ số giá điều chỉnh. Mà Việt Nam đang là nước nhập siêu nên nếu tính lạm phát qua chỉ số CPI không tránh khỏi … những con số khổng lồ. Nhưng theo tôi cục thống kê cho biết lạm phát qua cả 2 chỉ số thì có lẽ tránh được cuộc suy thoái của thị trường chứng khoán như hiện nay.

 
   
     
  dothientuan (13/02/2008 10:09 AM) Có ích: 5/5    
 
© SAGA - Hiểu thêm về lạm phát -  Để hiểu rõ hiện tượng lạm phát cũng như các hiện tượng tài chính - tiền tệ trong các nền kinh tế, theo tôi trước hết chúng ta cần phải hiểu được bản chất của tiền tệ và các chức năng của nó. Không phải ngẫu nhiên mà nội dung Tiền tệ thường được các sách Kinh tế học (kể cả Kinh tế Chính trị học, Tài chính - Tiền tệ) bàn đến đầu tiên. Trong giới hạn bài thảo luận này tôi không trình bày lại thế nào là bản chất và nội dung các chức năng của tiền tệ, tôi cũng không có ý định cũng như tham vọng đưa ra một định nghĩa chính thống về lạm phát nhằm thống nhất các định nghĩa khác. Tôi chỉ muốn chia sẻ một suy nghĩ nhỏ của mình về vấn đề nhìn nhận lạm phát. Rất mong nhận được sự phản hồi của các bạn.

Có lẽ cũng không kém hơn vào giữa thập niên 80 của thế kỷ thứ XX, vấn đề lạm phát lại được đưa ra bàn thảo sôi nổi như lúc này. Từ các nhà hoạch định chính sách đến các nhà nghiên cứu kinh tế, từ các giáo sư đến các sinh viên, từ anh công nhân đến bác nông dân, từ người giàu đến kẻ nghèo, từ các bạn đến cả bản thân tôi, mỗi người bàn đến vấn đề lạm phát từ những gốc độ khác nhau và cũng xuất phát từ những mục đích khác nhau. Trong cái bàn luận đó có người hoan hỉ hoặc bàng quan nhưng cũng có kẻ căm phẫn, tỏ ra bực tức rồi lo lắng...

Cho đến nay ở Việt Nam, về cách hiểu và định nghĩa lạm phát, có thể chia ra hai trường phái: Lạm phát Giá cả và Lạm phát Tiền tệ. Nội dung cơ bản của hai dòng quan điểm này là: người theo trường phái Lạm phát Giá cả cho rằng hiện tượng Lạm phát là do giá cả tăng lên, nói chính xác là mức giá cả chung tăng lên theo thời gian; trong khi đó người theo trường phái Lạm phát Tiền tệ cho rằng lạm phát có căn nguyên là tiền tệ, hay nói chính xác là do sức mua của tiền tệ giảm theo thời gian. Như vậy, một quan điểm thì cho rằng lạm phát so sức mua của tiền tệ giảm theo thời gian, còn quan điểm kia thì lại "đổ lỗi" cho mức giá cả chung tăng lên theo thời gian. Nhìn nhận vấn đề này như thế nào?

Chúng ta chắc phải biết, tiền tệ là vật ngang giá chung dùng để đo lường, biểu thị giá trị của hàng hoá (chức năng thước đo giá trị - standard of value) và qua đó giúp cho hàng hoá có thể lưu thông (chức năng phương tiện trao đổi - medium of exchange). Hàng hoá sản xuất ra yêu cầu cần phải lưu thông, trao đổi, tức để bán. Để có thể trao đổi được thì cần phải xác định được giá trị trao đổi. Như vậy, chức năng phương tiện trao đổi ra đời là yêu cầu khách quan của tiền tệ, góp phần làm cho lưu thông hàng hoá được diễn ra một cách thuận lợi, thông suốt và dễ dàng. Song trước khi thực hiện chức năng phương tiện trao đổi thì đòi hỏi tiền tệ phải làm tốt chức năng thước đo giá trị. Kinh tế chính trị học đã chỉ rõ, để tiền làm chức năng thước đo giá trị của hàng hoá thì bản thân tiền phải có giá trị. Điều này cũng giống như yêu cầu về tư chất đạo đức của người làm công việc đánh giá tư chất đạo đức của người khác. Nếu người làm công việc này bị xã hội cho rằng kém đạo đức thì những đánh giá của ông ta cũng không đáng tin cậy, không có ý nghĩa, thiếu thuyết phục.

Ban đầu, tiền là hàng hoá (hoá tệ) bởi hàng hoá tự nó phải có giá trị (và giá trị sử dụng). Hàng hoá khi được dùng làm tiền, nó đã tỏ ra là người có năng khiếu bẩm sinh. Hàng hoá dùng làm tiền tồn tại dưới hình thức là vàng (chế độ Bản vị Vàng - gold standard) đã xoá bỏ mọi tranh cãi về lạm phát. Đây là một trong những nội dung cốt lõi để hiểu về lạm phát. Sự sụp đổ của chế độ Bản vị Vàng với nhiều nguyên nhân đã chỉ rõ trong các sách kinh tế và sự ra đời của chế độ tiền dấu hiệu (fiat money) từ chế độ Bản vị bảng Anh đến chế độ đồng USD (Bretton Woods) rồi chế độ tiền giấy pháp định ngày nay. Quá trình này làm cho các hệ thống tiền tệ luôn đứng trước một nguy cơ (chính xác hơn là một thực tế) "lún sâu" vào các cuộc lạm phát.

Vấn đề được dẫn dụ như thế này. Giả sử trước đây tại có một loại hàng hoá có giá trị 100.000 đồng/sp thì với một tờ tiền có mệnh giá 100.000 đồng, chúng ta có thể mua được 1 sản phẩm. Nay vì lý do gì đó, tờ tiền này bị mất giá trị 50%, nghĩa là mệnh giá của tờ tiền vẫn 100.000 đồng nhưng để mua được cùng loại hàng hoá trên ta phải bỏ ra 2 tờ cho 1 sản phẩm như trước. Lưu ý rằng hàng hoá trên giá trị vẫn không đổi bởi đã không hề có một yếu tố nào tác động đến giá trị của nó cả. Giá trị không đổi thì giá cả cũng phải không đổi vì xét theo lý thuyết (thị trường cạnh tranh hoàn hảo) giá cả chỉ là hình thức biểu hiện cho giá trị. Vì vậy, nếu nhìn vào hiện tượng thì bạn chỉ thấy giá cả hàng hoá này là 200.000 đồng do người mua hàng phải trả 2 tờ mệnh giá 100.000 đồng để đổi lấy nó. Còn về bản chất thì giá trị hàng hoá không đổi trong khi sức mua của tờ tiền giảm sút. Từ đây có thể kết luận rằng khái niệm lạm phát là hiện tượng (tình trạng) mức giá chung tăng lên không sai nhưng như chính bề mặt (câu từ) khái niệm này đã nói lên rằng nó chỉ cho thấy hiện tượng của lạm phát mà chưa thấy được bản chất. Cũng giống như không ai nhìn thấy được bản chất của con người mà chỉ nhìn thấy được hiện tượng của họ để từ đó nhận thức được bản chất mà thôi.

Vấn đề chưa dừng lại ở đây, mà còn phải lý giải vì sao tờ tiền trên bị mất giá trị 50%. Chúng ta biết rằng, t ờ tiền ban đầu đảm trách tốt chức năng thước đo giá trị và do vậy cũng thực hiện hoàn hảo chức năng phương tiện trao đổi thông qua hình thức biểu hiện là giá cả. Điều này chỉ có được khi tiền bản thân nó có giá trị nội tại (như vàng), còn với tiền dấu hiệu thì giá trị của tờ giấy làm tiền (chi phí làm ra tờ tiền) không thể bằng sức mua của nó hay cái giá trị của hàng hoá (vàng) mà nó là đại diện. 100.000 đồng kia không phải là giá trị của bản thân tờ tiền mà là cái giá trị đại diện cho một lượng giá trị hàng hoá. Khi chúng ta nói giá trị của tờ tiền giảm 50% tức nói cái giá trị đại diện kia giảm 50%. Lý do từ đâu? Lý do được tìm thấy ở chính quy luật lưu thông tiền tệ và chính sách tiền tệ của NHTW. Với 100 bao gạo định sẵn thì với 50 người vác thì mỗi người sẽ vác 2 bao, nhưng tăng cường thêm 50 người nữa thì không thể nói ngược rằng mỗi người vẫn vác 2 bao để có thể 100 người vác được 200 bao gạo mà phải nói xuôi là mỗi người chỉ vác 1 bao mà thôi. Còn nếu muốn vẫn duy trì mỗi người vác 2 bao thì cần tăng thêm 100 bao gạo nữa vậy.

Vậy, lạm phát là một thuật ngữ kinh tế mà bản chất của nó là giá trị danh nghĩa (mệnh giá) của tiền bị suy giảm một cách tương đối so với cái giá trị mà đáng lẽ nó phải đại diện tốt khi nó xung phong làm đại diện. Khi con người "đẻ" ra tiền dấu hiệu thì họ cũng phải chịu trách nhiệm "nuôi dạy" và "chỉ bảo" nó. Chính chính sách tiền tệ mới là tội phạm gây ra tội lạm phát vì nó có thể làm ảnh hướng đến cung tiền và từ đó là sức mua của tiền tệ. Mục tiêu của chính sách tiền tệ một lần nữa khẳng định là kiểm soát lạm phát, ổn định sức mua của tiền tệ. Lạm phát là một vấn đề thuộc về tiền tệ. Chính sách tiền tệ phải có nhiệm vụ đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát và phải chịu trách nhiệm trước tình trạng lạm phát trong nền kinh tế.

Lạm phát là một hiện tượng ngẫu nhiên tồn tại khách quan trong các nền kinh tế có lưu thông tiền dấu hiệu. Diệt hẳn lạm phát là điều cực kỳ khó khăn nếu không muốn nói là không thể khi vẫn còn tiền dấu hiệu. Xóa bỏ tiền dấu hiệu buộc con người phải nghĩ ra một chế độ tiền tệ mới. Chừng nào "họ" nghĩ ra thì đó cũng là thời điểm đánh dấu sự chín muồi cho một sự quá độ từ chế độ tiền tệ này sang một chế độ tiền tệ khác như nó đã từng diễn ra trong lịch sử.

 
   
     
  binhjuventus (14/11/2007 08:09 AM) Có ích: 2/4    
 

Mình không phải là dân kinh tế nhưng trong bài viết này, mình đặc biệt quan tâm đến điểm [Trích dẫn từ bài của JackPhi]:
Theo lẽ thông thường thì tỉ lệ lạm phát nếu giữ được ở mức thấp hơn tỉ lệ phát triển kinh tế thì là điều tốt. Do đó, các quốc gia đang ở giai đoạn kinh tế cất cánh (tỉ lệ phát triển xấp xỉ 10%) có thể chấp nhận một tỉ lệ lạm phát cao hơn các quốc gia đã phát triển (tỉ lệ phát triển dưới 5%).

Ví dụ theo World Factbook, nếu một nền kinh tế tăng trưởng kinh tế ở mức 8.4% nhưng tỉ lệ lạm phát lên tới 8.3%. Như vậy, trung bình người dân có thu nhập cao hơn 8.4% nhưng đời sống sinh hoạt mắc hơn 8.3% cùng thời kỳ thì coi như cũng không tích lũy được gì.
------------------------------------------------

Theo một bài viết trên vneconomy thì quan điểm tốc độ tăng trưởng phải cao hơn tỷ lệ lạm phát không hề có cơ sở khoa học vững chắc. Hay những người hoạch định chính sách chỉ có một niềm tin là xây dựng chính sách sao cho tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn tỉ lệ lạm phát thì sẽ giảm tác hại của lạm phát tới nền kinh tế?

Bài này của mình cũng chỉ có mục đích cung cấp thêm thông tin về một điểm trong bài viết về lạm phát của bạn JackPhi. Mình không phải là dân kinh tế nên cũng mong các bạn tiếp tục thảo luận về vấn đề này.

Nhân đây, mình muốn hỏi các bạn về hiện tượng, và theo các bạn, nguyên nhân của việc tăng giá thuốc tại VN thời gian trước đây (gần đây mình không ở VN nên không theo dõi sự kiện này tiến triển đến đâu).

 
   
     
  luungoclong (24/08/2007 04:22 AM) Có ích: 9/9    
 

Mình không đồng ý với thảo luận của bạn huannn - bởi 2 điểm chính!

Thứ nhất bạn nói :

"Bản chất của lạm phát được thể hiện ở tính chất của lạm phát là kéo dài hay chỉ trong ngắn hạn - mức độ ảnh hưởng như thế nào"

Mình cho rằng bạn đã nhầm lẫn giữa lạm phát và tăng giá! Nếu xét về mặt khái niệm - thì lạm phát là hiện tượng gia tăng liên tục của mức giá tổng quát Nhưng BẮT NGUỒN từ việc ra tăng cung tiền! Theo mình quan điểm này về lạm phát mới chính xác - bởi nó có thể loại bỏ việc "ngộ nhận" lạm phát trong rất nhiều trường hợp giá cả tăng (do nhiều nguyên nhân - nhưng không phải do tăng cung tiền)!

Với lý luận như vậy thì lạm phát - bản thân nó đã là sự tăng giá kéo dài!

Thứ 2 là quan điểm của bạn về nguyên nhân lạm phát :

"Nguyên nhân của lạm phát có thể nói một cách tổng quát nhất - do cầu kéo, chi phí đẩy"

Bạn nói như vậy là chưa chính xác! Nói cho "đầy đủ" theo một trong những quan điểm trước đây "khá phổ biến" về lạm phát là "Nguyên nhân của lạm phát là do cầu kéo, chi phí đẩy, tăng cung tiền và tâm lý người tiêu dùng"!

Có thể hiểu đơn giản đó là do tăng nhu cầu thị trường (chiến tranh, bệnh dịch..), do tăng chi phí đầu vào (tăng giá dầu, sắt thép, nguyên liệu...), do tăng lượng tiền lưu hành (thường là tài trợ cho thâm hụt ngân sách), và cuối cùng là do tâm lý e ngại lạm phát của người tiêu dùng và tâm lý "tát nước theo mưa" của người bán!

Nhưng đó cũng là "theo quan điểm trước đây"! Hiện tại có rất nhiều người ủng hộ quan điểm cho rằng chỉ việc "tăng lượng cung tiền" mới là nguyên nhân "gốc rễ" của lạm phát. Lý luận như vậy có những mặt ưu việt sau:

Đầu tiên, nó giúp phân biệt rõ giữa "tăng giá và lạm phát" - chỉ ra nguyên nhân thực sự của lạm phát và có những cách giải quyết đúng đắn (lịch sử đã chứng minh - vì hiểu sai về lý thuyết lạm phát khi giá cả tăng - không phải do nguyên nhân là tăng cung tiền nhưng chính phủ đã tiến hành các biện pháp "thắt chặt tài chính" không đúng lúc - và không thích hợp - dẫn tới càng làm suy thoái trở lên trầm trọng - mặc dù ngay lúc đó có thể làm giảm "triệu chứng tăng giá"!)

Lý giải tại sao "tăng giá chỉ là tăng giá - mà không phải là lạm phát"! Tăng giá - có nhiều nguyên nhân như ở trên: nhu cầu tăng, giá đầu vào tăng, và do tâm lý. Nhưng nếu chỉ do 3 nguyên nhân trên - thì không thể có việc "tăng giá liên tục"! Một mặt bằng giá mới được thiết lập và "phải dừng lại" kể cả khi tính tới yếu tố tâm lý! Nhưng nếu không hiểu được điều này - sẽ là tệ hại khi chính phủ và người dân - nghĩ rằng đó chính là "lạm phát" và có những chính sách làm trầm trọng hơn những nguyên nhân tăng giá như: can thiệp bằng các công cụ tài chính để giảm lượng tiền lưu thông, mà điển hình là tăng lãi xuất (thực hiện chính sách tài chính thắt chặt) điều này sẽ cản trở các doanh nghiệp tiếp cận vốn để sản xuất đáp ứng cho thị trường đang ra tăng nhu cầu - hoặc làm tăng gánh nặng cho các doanh nghiệp vay nợ từ trước - gián tiếp cùng với việc tăng giá đầu vào càng làm xu hướng tăng giá tiếp tục trầm trọng! (Đây chính là sai lầm mà trường phái "lạm phát giá cả" mắc phải và thất bại trong việc kiềm chế lạm phát - mình vẫn sử dụng từ nguyên bản "làm phát giá cả" - mặc dù theo mình - từ này "sai" vì nó không lột tả đúng bản chất của lạm phát, và thực tế, khái niệm này hầu như không còn được sử dụng).

Và cũng chính vì hiểu được nguyên nhân của lạm phát, chính phủ và người dân có thể "bình tĩnh" hơn trước những đợt "dao động" của giá cả, mà nguyên nhân của nó là từ "thị trường" - và cách xử lý trong những trường hợp này, sẽ chính xác, hiệu quả, và ít tốn kém hơn nhiều so với "ngộ nhận" lạm phát!

Mặc dù trường phái "lạm phát giá cả" đã bộc lộ rất nhiều khuyết điểm - nhưng đáng tiếc - không chỉ riêng báo chí - mà rất nhiều các cơ quan chính phủ vẫn còn "nhầm lẫn" khi viết bài về 2 khái niệm "lạm phát & tăng giá". Điều đó sẽ gây hoang mang và tạo lên những khó khăn cho việc quản lý và điều tiết thị trường!

Hy vọng bài viết sẽ phần nào giúp các bạn hiểu rõ hơn về lạm phát! Rất mong được góp ý!

 
   
     
  nvietanh (28/06/2007 07:56 AM) Có ích: 2/6    
 
Theo tôi biết thì Universe in a Nutshell dịch sang tiếng việt là Vũ trụ vắn tắt chứ không phải là Vũ trụ trong vỏ hạt dẻ
 
   
     
  huannn (19/06/2007 03:22 PM) Có ích: 2/3    
 

Thực ra việc đưa ra khái niệm của lạm phát thì có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên cách đưa ra khái niệm lạm phát của bạn là chưa đưa ra được bản chất của lạm phát - cái mà bạn nêu ra chỉ là biểu hiện bề ngoài của lạm phát thôi. Bản chất của lạm phát được thể hiện ở tính chất của lạm phát là kéo dài hay chỉ trong ngắn hạn - mức độ ảnh hưởng như thế nào. Nguyên nhân của lạm phát có thể nói một cách tổng quát nhất - do ____ cầu kéo ____ chi phí đẩy

Như vậy ta có thể tiếp cận một cách dễ dàng hơn so với cách tiếp cận của bạn đưa ra.

 
   
     
  zVuong (31/05/2007 10:51 AM) Có ích: 4/7    
 

Tôi không biết mấy về lạm phát, trừ việc đọc một số nghiên cứu "rất toán học" của P. Samuelson và công trình khởi thủy cho hiện tượng CH (Conditional Heteroskedasticity) của Robert Engle (giải thưởng Nobel kinh tế cho đóng góp này mấy năm trước).

Tuy nhiên, điều làm tôi ấn tượng nhất về lạm phát là các con số đôi lúc rất to :D. Hơn thế, ông giáo sư vật lý vũ trụ vĩ đại còn sống và bị liệt, rất lừng danh, Stephen Hawkin có viết trong cuốn bán chạy (ngang với A Brief History of Time) là Universe in a Nutshell (Vũ trụ trong vỏ hạt dẻ -- đã dịch ra tiếng Việt) rằng đáng lý ra hiện tượng lạm phát phải là một hiện tượng vật lý... Chắc chắn ông ta có lý do để nói như vậy, và một bộ óc lớn vĩ đại dường đó, chắc chắn là lập luận khá xác đáng.

Các bạn thử tìm đọc xem sao.

 
   
     
 
Thảo luận (0) Thành viên ưa thích (40)
Trang trước   -  1/0  -   Trang sau
 
 
     Gửi thảo luận (Vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu. Nếu bạn chưa có bộ gõ Tiếng Việt, nhấn vào đây  
     
Tiêu đề 
   
 
( Tối đa1MB)
 
    (Để tham gia thảo luận, bạn cần đăng nhập)  
 
 
 
:: CÁC BÀI LIÊN QUAN
 
 
:: CÁC BÀI MỚI TRONG NGÀY
 
 
:: CÁC BÀI TIẾP THEO
Tiếp tục thảo luận về Thế giới phẳng của Thomas L. Friedman
Trao đổi với ý kiến của trantc10 về Thế giới phẳng của Thomas L. Friedman
Tiếp tục thảo luận về các ý kiến với cuốn sách Thế giới phẳng của Thomas L. Friedman
Bàn tiếp về Hai nhà kinh tế lớn nhất thế kỷ 20
Bàn luận tiếp về ý kiến của Kubrik với cuốn sách Thế giới phẳng của Thomas L. Friedman
Thảo luận về cuốn sách Thế Giới Phẳng của Thomas L. Friedman
Bàn thêm về bài viết Hai nhà kinh tế lớn nhất thế kỷ 20
 
 
 
 

Đăng ký:216481 (Vàng: 21 - Bạc:11)

Thảo luận:42710

Thuật ngữ tài chính-kinhdoanh:4963

Hỏi đáp kinh tế-kinh doanh:1494

Counter:
hit counter

Chăm sóc kỹ thuật bởi  NVS

TRANG CHỦ  |  GIỚI THIỆU  |  SITEMAP |  ĐỐI TÁC  |  ĐIỀU KHOẢN  |  Ý KIẾN  |  LIÊN HỆ/QUẢNG CÁO
Liên hệ quảng cáo:
CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ TRỰC TUYẾN IP (IP MEDIA JSC)
Email: info@saga.vn
 
Hà Nội: Tầng 26 Xuân Thủy Tower, 173 Xuân Thủy, Q Cầu Giấy – ĐT: (04) 39446509
TP HCM: Lầu 5, 293 Điện Biên Phủ, P. 15, Q. Bình Thạnh - ĐT:(08) 54042168
Giấy phép số 362/GP-BC do Cục Báo chí, Bộ Văn hoá-Thông tin cấp ngày 05/12/2006.
® Ghi rõ nguồn "saga.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.