Tại Sao Huy Động Vốn Bằng Nợ Rẻ Hơn Sử Dụng Vốn Cổ Phần?

Unknown
22/03/2015 - 23:55 12727     0

Ở Việt Nam, nhắc đến nợ, người ta thường có tâm lý e dè, nhất là đối với các doanh nghiệp đang trong thời kỳ “sung mãn”, lượng tiền mặt vô cùng dư thừa thì dường như họ lại càng không quan tâm đến nợ. Tuy nhiên, huy động vốn bằng nợ lại là một phương pháp hiệu quả giúp doanh nghiệp bắn mũi tên tìm vốn tới đích, và không những thế đây còn là phương thức tiết kiệm hơn so với việc sử dụng vốn cổ phần

 

Lưu ý: Trong trường hợp này, “chi phí” được đề cập ở đây chính là chi phí có thể đo lường được cho việc huy động vốn tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp. Với vốn nợ, đó chính là chi phí lãi vay mà doanh nghiệp phải trả cho khoản vay của mình. Với vốn cổ phần, chi phí sử dụng vốn được hiểu như là quyền đối với doanh thu, thu nhập của công ty phải thỏa mãn được các cổ đông khi họ quyết định góp vốn vào công ty.

Ví dụ: 

Nếu bạn điều hành một doanh nghiệp nhỏ và cần tài trợ khoảng $40,000, bạn có thể hoặc đi vay ở ngân hàng số tiền $40,000 với lãi suất 10% hoặc bạn có thể bán 25% cổ phần doanh nghiệp cho người hàng xóm với giá $40,000.

Giả sử trong năm sau đó, doanh nghiệp của bạn có thể tạo ra được lợi nhuận hoạt động là $20,000. Nếu ban đầu bạn quyết định đi vay ở ngân hàng với chi phí lãi vay (hay còn gọi là chi phí tài trợ của nợ) sẽ là $4,000, bạn còn lại lợi nhuận $16,000. Ngược lại, nếu bạn đã sử dụng tài trợ vốn cổ phần, nghĩa là bạn không hề có nợ và dĩ nhiên là không có chi phí lãi vay nhưng bạn chỉ được nắm giữ 75% lợi nhuận của doanh nghiệp thôi (25% khác thuộc sở hữu của người hàng xóm nhà bạn). Do đó, lợi nhuận của bạn bây giờ chỉ có $15,000 (tức 75%*$20,000).

Từ ví dụ này, bạn có thể thấy vốn nợ rẻ hơn vốn cổ phần là như thế nào, do đó cũng rất dễ hiểu khi các cổ đông sáng lập của công ty quyết định lựa chọn phát hành nợ chứ không phải vốn cổ phần. Thuế cũng là một yếu tố giúp cho tình huống phát hành nợ trở nên tốt hơn. Nếu doanh nghiệp của bạn sử dụng nợ, bởi vì chi phí lãi vay được khấu trừ ra khỏi thu nhập hoạt động trước khi thu nhập bị đánh thuế, vậy nên thuế sẽ trở thành một lợi thế để doanh nghiệp đưa ra quyết định lựa chọn giữa việc tiến hành vay nợ hay phát hành cổ phần.

Dĩ nhiên, lợi ích của tài trợ nợ với lãi suất cố định đôi khi lại có thể là điểm bất lợi. Bởi vì nợ được xem là chi phí tài chính cố định, dù doanh nghiệp của bạn có hoạt động ra sao, thu nhập nhiều hay thậm chí đang thua lỗ thì doanh nghiệp vẫn phải đảm bảo việc trả lãi vay đúng kỳ hạn và trả nợ gốc khi đáo hạn, do vậy một sự gia tăng nợ của doanh nghiệp cũng đồng nghĩa với việc gia tăng thêm rủi ro tài chính.

Quay trở lại ví dụ trên,

Giả sử trong năm sau, công ty của bạn chỉ tạo ra được có $5,000. Với tài trợ nợ, bạn có thể vẫn có cùng $4,000 lãi vay phải trả và vì vậy lợi nhuận của bạn chỉ còn lại là $1,000 (= $5,000 - $4,000). Trong trường hợp tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần, tức là bạn không hề phải trả một đồng lãi vay nào hết, thì bạn vẫn có 75% lợi nhuận tương đương với $3,750 (75% x $5,000).

Do vậy, đối với một công ty được kỳ vọng làm ăn tốt thì tài trợ nợ có thể được sử dụng thường xuyên với mức chi phí thấp hơn so với tài trợ bằng vốn cổ phần. Tuy nhiên, nếu trong giai đoạn  công ty không thể vận hành tốt để tạo ra tiền lượng tiền mặt đủ lớn, thì chi phí lãi vay lúc này có thể lại là một gánh nặng. Đây chính là mặt trái của việc tài trợ hoạt động doanh nghiệp bằng vốn nợ. Từ đây có thể thấy, dù vốn nợ có chi phí rẻ hơn vốn cổ phần và doanh nghiệp nào cũng có thể hiểu được điều này, nhưng thời điểm nào thì sử dụng nợ là hợp lý? Hợp lý ở đây có nghĩa là tận dụng được tối đa lợi ích của nợ, tận dụng tối đa lợi ích từ đòn bẩy tài chính từ vốn nợ. Khi nào thì doanh nghiệp nên vay nợ và vay nợ bao nhiêu là thích hợp? Quá trình đi tìm lời giải cho bài toán trên có lẽ sẽ vô cùng thú vị và cũng sẽ có không ít vấn đề “đau đầu” cho các nhà quản trị.

Dễ thấy, các doanh nghiệp không bao giờ có thể chắc chắn 100% về lượng thu nhập trong tương lai (mặc dù họ có thể có những dự đoán hợp lý) và khi thu nhập tương lai của các doanh nghiệp càng không ổn định thì rủi ro càng tăng lên. Do đó, các doanh nghiệp trong ngành có rủi ro kinh doanh thấp, có dòng tiền ổn định thường sử dụng nợ nhiều hơn là các doanh nghiệp trong các ngành nhiều rủi ro hơn. Các doanh nghiệp nhỏ hoặc mới bắt đầu hoạt động, đang trong giai đoạn khởi nghiệp cũng sử dụng vốn nợ rất ít, nếu không muốn nói là không có sử dụng nợ. Các doanh nghiệp mới với sự không chắc chắn cao có thể phải trải qua một thời gian đầy khó khăn để tìm được tài trợ bằng vay nợ, nên thường thì các hoạt động của họ hầu hết được tài trợ bằng vốn cổ phần.

Ở Việt Nam, nhắc đến nợ, người ta thường có tâm lý e dè, nhất là đối với các doanh nghiệp đang trong thời kỳ “sung mãn”, lượng tiền mặt vô cùng dư thừa thì dường như họ lại càng không quan tâm đến nợ. “Tiền tôi có, tại sao phải vay?” Cũng vậy, sau hơn 10 năm thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời, đi vào hoạt động và đạt được sự phát triển như hôm nay thì để giải quyết bài toán thiếu vốn, doanh nghiệp niêm yết thường chọn giải pháp vốn cổ phần chứ không mấy mặn mà với việc sử dụng tài trợ bằng vốn nợ. Các doanh nghiệp dường như đã quên đi lợi ích từ việc sử dụng đòn bẩy tài chính. Hi vọng trong tương lai không xa, vấn đề tài trợ bằng vốn nợ sẽ được các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm thỏa đáng và đạt được hiệu quả tốt nhất trong việc sử dụng loại vốn có nhiều ưu điểm này. Cũng cần nhắc lại, ngoài 2 hình thức kể trên, phát hành trái phiếu doanh nghiệp cũng là một hình thức vay nợ của doanh nghiệp.

Nguồn : Saga Tổng hợp & Biên tập
Unknown