Các Cuộc Suy Thoái Kinh Tế Mỹ Từ Thế Kỉ 20 Đến Nay

Su Nguyễn
13/09/2017 - 07:00 191     0

Suy thoái kinh tế được định nghĩa là sự suy giảm trong các hoạt động kinh tế của một quốc gia hai quý liên tiếp. Mặc dù được coi là một cường quốc kinh tế, nhưng nước Mĩ vẫn không thể nào thoát khỏi tình trạng suy thoái này. Trên thực tế, quốc gia này đã phải trải qua một số thất bại kinh tế ngay từ đầu những năm 1900. Dưới đây, Saga sẽ giới thiệu với bạn đọc các cuộc suy thoái kinh tế khác nhau đã xảy ra ở Mỹ kể từ đầu thế kỷ 20 và nguyên nhân đằng sau chúng.

Đại Khủng hoảng

Xảy ra từ tháng 8 năm 1929 đến tháng 3 năm 1933, Đại khủng hoảng được các chuyên gia đánh giá là cuộc suy thoái tồi tệ nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Kéo dài đến tổng cộng 43 tháng, GDP giảm xuống -26,7%, trong khi tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt lên 24,9%. Cuộc Đại khủng hoảng xảy ra bởi những yếu tố sau: Sự đổ vỡ của thị trường chứng khoán toàn cầu, sự sụp đổ của các ngân hàng Mỹ, và sự nổi lên của những loại thuế quan mới, dạng mở rộng.

Suy thoái từ năm 1937 đến năm 1938

Mặc dù không tồi tệ tới mức như cuộc Đại khủng hoảng, nhưng sự kiện trong 13 tháng này cũng được xem là một trong những thời kỳ khủng hoảng kinh hoàng nhất của thế kỷ 20, với mức giảm GDP -18.2% và tỷ lệ thất nghiệp cao nhất lên đến 19%. Ba lý do được trích dẫn cho cuộc suy thoái này: Chính sách tài khóa chặt chẽ sau Chính sách kinh tế mới (New Deal) như một phương tiện để cân bằng ngân sách; chính sách tiền tệ thắt chặt của Cục dự trữ liên bang Mĩ, và sự sụt giảm lợi nhuận trong kinh doanh, dẫn đến sự suy giảm đầu tư.

Suy thoái kinh tế năm 1945

Kéo dài từ tháng 2 cho đến tháng 10 năm 1945, thời kỳ 8 tháng này chứng kiến ​​sự sụt giảm GDP xuống còn -12.7% và tỷ lệ thất nghiệp là 5.2%. Cuộc suy thoái “hậu chiến tranh" này là do quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế thời kỳ chiến tranh sang nền kinh tế thời bình.

Suy thoái kinh tế năm 1949

Mặc dù chỉ là một thời kỳ suy thoái khá ngắn và nhẹ, suy thoái kinh tế năm 1949 cũng đã làm GDP giảm xuống còn -1,7% và tăng tỷ lệ thất nghiệp lên 7,9%. Các nhà kinh tế cho rằng nguyên nhân gây ra “đường xoắn ốc” 11 tháng này là vì cuộc "Chính sách kinh tế công bằng" (Fair Deal) của Tổng thống Harry Truman, cũng như tình hình chi tiêu căng thẳng của chính phủ.

Suy thoái kinh tế năm 1953

Với sự sụt giảm còn -2,6% trong GDP và tỉ lệ thất nghiệp cao nhất là 6,1%, cuộc suy thoái năm 1953 được cho là vì tách ra khỏi Bộ Tài chính Hoa Kỳ của Cục Dự trữ Liên bang vào  năm 1951, sau đó việc các chính sách cũ được thực hiện nghiêm ngặt hơn đã dẫn đến cuộc khủng hoảng kéo dài 10 tháng này.

Suy thoái kinh tế năm 1958

Do chính sách thắt chặt tiền tệ năm 1955 và việc nới lỏng sau đó vào năm 1957, cuộc suy thoái năm 1958 dẫn đến những con số kinh tế đáng buồn như tỷ lệ thất nghiệp đỉnh điểm đạt 7,5%, GDP giảm còn -3,7%.

Suy thoái trong những năm 1960 đến năm 1961

Khi Cục Dự trữ Liên bang quyết định tăng lãi suất, cuộc khủng hoảng kéo dài 10 tháng bắt đầu vào tháng Tư năm 1960 và kết thúc vào tháng Hai năm 1961. Trong khi GDP còn -1,6%, tỷ lệ thất nghiệp tăng lên 7,1%.

Suy thoái kinh tế từ 1969 đến 1970

Được coi là một cuộc suy thoái nhẹ, giai đoạn 11 tháng này chỉ làm GDP tụt xuống -0,6%. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao - 6%. Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng có một vài nguyên nhân tiêu biểu, như tỷ lệ lạm phát tăng do thâm hụt gia tăng, thắt chặt tài khóa thứ cấp đối với thâm hụt ngân sách của chiến tranh Việt Nam, thắt chặt chính sách tiền tệ và chính sách của Cục dự trữ liên bang về việc tăng lãi suất.

Suy thoái năm 1973 đến năm 1975

Sự suy thoái này kéo dài trong 16 tháng, đã làm GDP giảm -3,2% và tỷ lệ thất nghiệp tăng lên 9%. Cuộc suy thoái diễn ra bởi OPEC quyết định tăng giá dầu gấp bốn lần, cũng như mức chi tiêu của chính phủ tăng cao do cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Tình trạng khó khăn này tiếp tục bị làm trầm trọng thêm vì cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 và sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1973-1974.

Suy thoái kinh tế năm 1980

Cuộc suy thoái ngắn bắt đầu vào tháng 1 năm 1980 này lại là kết quả của kế hoạch tăng lãi suất của CUộc dự trữ liên bang nhằm chống lại lạm phát trong những năm 70 của thế kỉ XX. GDP giảm chỉ còn -2,2%, tỷ lệ thất nghiệp khá là cao, ở mức 7,8%.

Suy thoái trong những năm đầu thập niên 80

Kéo dài trong 16 tháng, suy thoái vào đầu những năm 1980 là những gì mà các nhà kinh tế gọi là cuộc suy thoái kép hay suy thoái hình chữ W, được đặc trưng bởi nền kinh tế rơi vào suy thoái sau đó tăng trưởng trong thời gian ngắn, rồi lại tiếp tục suy giảm khác trước khi hồi phục thực sự.

Nguyên nhân của cuộc suy thoái này chủ yếu là vì khủng hoảng năng lượng năm 1979, buộc giá dầu phải tăng mạnh do chế độ mới ở Iran. Quốc gia cũng áp đặt chính sách thắt chặt tiền tệ - như một nỗ lực kiềm chế lạm phát - để làm giảm chi tiêu kinh doanh.

Kết quả là GDP đã giảm xuống -2.7%,và tỷ lệ thất nghiệp lên đến 10,8%, đây là tỷ lệ cao nhất trong lịch sử các cuộc suy thoái kinh tế của Mỹ.

Suy thoái trong những năm đầu thập niên 90

Chỉ là một sự sụp thoái kinh tế ngắn trong vòng 8 tháng, cuộc suy thoái đầu những năm 1990 được đặc trưng bởi sự sụt giảm còn -1,4% trong GDP và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng lên 7,8%. Có ba yếu tố góp phần tạo nên sự kiện này: ích lũy nợ năm 1980, cú sốc giá dầu vào những năm 1990 và tỷ lệ người tiêu dùng bi quan tăng lên.

Suy thoái trong những năm đầu thế kỉ XX

Việc ngăn chặn sự tăng trưởng kinh tế trong những năm 1990 đã dẫn đến sự suy thoái kéo dài 8 tháng này, kết quả là tỷ lệ thất nghiệp tăng 6,3% và GDP giảm còn -0,3%. Một số nguyên nhân gây ra sự kiện này: vụ khủng bố ngày 11 tháng 9, sự sụp đổ của bong bóng Dot-com (sự cố Y2K ), sự giảm chi phí đầu tư, kinh doanh.

Cuộc đại suy thoái

Sự suy sụp nền kinh tế từ tháng 12 năm 2007 đến tháng 6 năm 2009 là một trong những chương tăm tối nhất trong lịch sử nền kinh tế Mỹ, bên cạnh cuộc Đại khủng hoảng. GDP giảm xuống còn -5,1%, trong khi tỷ lệ thất nghiệp tăng lên đến 10%.

Nguyên nhân lớn nhất của Cuộc đại suy thoái này là vì khủng hoảng cho vay thế chấp bất động sản dưới chuẩn (Subprime mortgage crisis), đã đâm thủng bong bóng nhà đất ở Mỹ. Điều này, cùng với việc tăng giá lương thực và giá dầu, đã góp phần gây ra cuộc khủng hoảng tiền tệ toàn cầu. Kết quả là, ngành công nghiệp ô tô, cũng như một số tổ chức tài chính, như Lehman Brothers, AIG, Freddie Mac, Fannie Mae và Bear Stearns đều  sụp đổ. Để giải quyết cuộc suy thoái 18 tháng, chính phủ đã đưa ra gói kích thích tài chính trị giá 787 tỷ đô la Mỹ và cứu trợ ngân hàng trị giá 700 tỷ đô la.

Nguồn : Theo SAGA.Vn
Su Nguyễn

Saga App

Saga App