Tìm kiếm  
 
Vai trò người lãnh đạo Xung đột trong doanh nghiệp Quản trị thay đổi và khủng hoảng Làm việc độc lập-Nhóm làm việc
Bạn đang ở :  Trang chủ » Thế giới KD » Văn hóa doanh nghiệp » Quản trị thay đổi và khủng hoảng

KIẾN THỨC KINH DOANH

CUỘC SỐNG

THUẬT NGỮ

 

SỰ KIỆN - CHUYÊN ĐỀ

BÀI HAY

Quản trị nhân sự trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Ngân hàng thương mại nhà nước và rủi ro
Giải quyết khủng hoảng với công cụ PR: tình huống sữa Dielac
Bảy ngày giông bão ở Nutifood
Bí quyết ngân hàng kiếm lời trong khủng hoảng
Quản trị doanh nghiệp trong thời khủng hoảng kinh tế
5 chiến thuật đơn giản biến ác mộng PR thành lợi thế
Bất cập lãi suất cơ bản!
Hankuk vượt qua khủng hoảng
Cơn bão sa thải sắp "đổ bộ" vào Việt Nam
... Xem toàn bộ

BÀI BÌNH CHỌN

  Bảy ngày giông bão ở Nutifood  
  Cơn bão sa thải sắp "đổ bộ" vào Việt Nam  
  Giải quyết khủng hoảng với công cụ PR: tình huống sữa Dielac  
  Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn  
  Câu chuyện The Manor: quan trọng là văn hóa kinh doanh  
  Hành xử doanh nghiệp - Đâu phải chuyện đùa...  
  Sự khác biệt trong sử dụng tư vấn  
  Trong cơn nguy khốn mới biết ai là anh hùng  
  Thuyền thúng rẽ sóng WTO: về đích an toàn?  
  Quản trị khủng hoảng và truyền thông  
... Xem tất cả
 
ĐĂNG NHẬP
  Tên truy cập:
  Mật khẩu:

Quên mật khẩu

Tại sao Saga?

1 Bài viết vàng / 17 Bài viết bạc

  Liên hệ nóng:
YM: sagarina 
sagavietnam 
     Email: info@saga.vn

 

Người gửi: blackhole  --   11/08/2008 10:13 AM    

Ngân hàng thương mại nhà nước và rủi ro

( Bình chọn: 4   --  Thảo luận: 5 --  Số lần đọc: 27057)

Saga_Copyright.jpg - Việt Nam với 5 ngân hàng thương mại quốc doanh, chiếm hơn 60% dư nợ tín dụng, và với bản chất là sở hữu nhà nước ở các ngân hàng này đang tôn tại rất nhiều điểm yếu kém, một yếu tố cố hữu của vấn đề sở hữu nhà nước. Trong giai đoạn hiện nay, với những bất ổn trong vấn đề tài chính, ngân hàng, liệu một cuộc khủng hoảng có diễn ra với các ngân hàng. Hệ thống ngân hàng có vai trò quan trọng trong vấn đề phát triển kinh tế, đối với VN một nước đang phát triển, một nền kinh tế đang chuyển đổi thì vai trò của ngân hàng càng trở nên quan trọng, là kênh cung cấp tín dụng chủ yếu cho sự phát triển của nên kinh tế. Hoạt động ngân hàng luôn hàm chứa rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng. Trong giới hạn của bài này tác giả giới hạn nội dung nghiên cứu vấn đề rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) đồng thời đề xuất các giải pháp để giảm thiểu các rủi ro này.

1. Tổng quan về hệ thống ngân hàng Việt Nam

Kể từ năm 1990 hệ thống NH Việt Nam chuyển từ một cấp thành ngân hàng hai cấp, hệ thống NH VN đã có những bước phát triển mạnh mẽ, xét về tín dụng NH trên GDP 1993 chỉ khoảng 18% đến năm hiện nay đã trên 70%, về thành phần sở hữu từ chổ nhà nước chiếm gần như toàn bộ sở hữu cho đến nay sở hữu nhà nước chỉ chiếm hơn 60% toàn bộ giá trị các ngân hàng đang hoạt động tại Việt Nam. Về số lượng hiện nay cả nước có 5 NHTMNN, 1 NH chính sách, 37 NHCP và 27 chi nhánh NH nước ngoài [1]. Mới đây Ngân hàng nhà nước (NHNN) đã cấp phép và chấp thuận về nguyên tắc cho phép thành lập gần 10 ngân hàng thương mại (NHTM), chưa kể hàng chục bộ hồ sơ của nhiều ngân hàng nội địa, ngân hàng nước ngoài đã gửi tới NHNN xin phép hoạt động [2]. Như vậy, vai  trò và tỷ trọng của các NHTMNN ngày càng giảm, tuy nhiên hiện nay các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước là có xu hướng thành lập các ngân hàng, về bản chất các ngân hàng này lại là các NHTMNN. Xuất phát từ việc sở hữu ngân hàng của nhà nước và cơ cấu hoạt động của NH hiện tại ta xem xét vấn đề rủi ro của các ngân hàng này.

2. Thực trạng vấn đề rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại nhà nước

Rủi ro tín dụng (RRTD) là khả năng khách hàng (người đi vay) nhận khoản vốn vay nhưng không thể hoàn trả vốn và lãi hoặc hoàn trả không đầy đủ các khoản vay và lãi cho NH, gây tổn thất cho NH. Có một số tiêu chi để đánh giá rủi ro tín dụng của NHTM như:

*       Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ.
*       Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu.
*       Tỷ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất.
*       Nợ đáng nghi ngờ có khả năng chuyển thành nợ xấu cao.
*       Nợ không có tài sản đảm bảo.

Về nguyên tắc NH phân loại nợ theo khách hàng để phân tích và đánh giá RRTD. Nợ của khách hàng nhóm A được coi có rủi ro thấp nhất, nhóm D, E được coi là có rủi ro cao nhất. RRTD là khả năng vỡ nợ của khách hàng nên nhưng khách hàng phá sản, lừa đảo, chây ì không trả nợ là biểu hiện rõ nhất sự rủi ro này. Các dấu hiệu để xem là các doanh nghiệp có rủi ro là các khoản nợ không trả được khi đến hạn, với một tổ chức cụ thể một khoản nợ đến hạn không trả được, thì các khoản nợ khác chưa đến hạn cũng được coi là có rủi ro, thậm chí dù nợ chưa đến hạn, hoặc đến hạn vẫn trả được, song tình hình tài chính yếu kém, môi trường kinh doanh có biến động, không thuận lợi cho khách hàng thì khoản nợ đó cũng được coi là có rủi ro. Theo Quyết định 493 của NHNN, nợ của các NHTM được chia thành 5 nhóm, với nợ từ loại 3 đến 5 là nợ xấu, còn nợ nhóm 1 - nợ thông thường - trích dự phòng 0%, và nợ nhóm 2, trích dự phòng 5%.  Như vậy các loại nợ với mức rủi ro khác nhau sẽ quy định tỷ lệ trích dự phòng khác nhau, bước đầu đã tạo nên quỹ dự phòng để xử lý những tổn thất có thể gặp phải. Cũng theo QĐ này, nợ xấu (nhóm 3,4,5) chỉ được phép chiếm tỷ lệ khoảng từ 2 - 5% [3]. Trên thực tế việc kiểm soát các khoản nợ xấu không phải là chuyện dễ, trong thời kỳ đầu phát triển tín dụng phát triển với một tốc độ rất cao. Trong bối cảnh đó, do thiếu các thông tin đáng tin cậy vì vậy không thể có đánh giá chính xác về chất lượng danh mục nợ và dự phòng khiến ta không thể đưa ra một đánh giá đầy đủ về chất lượng tài sản ngân hàng, nếu tính theo chuẩn kế toán trong nước, theo NHNN đánh giá thì tỷ lệ nợ xấu vào khoảng 3%, tuy nhiên theo Fitch trên cơ sở chuẩn mực IAS (International Accounting Standards) thì con số này có thể lên tới 15% [4]

money.jpgXem xét một tiêu chí khác để đánh giá mức độ rủi ro đó là hệ số đủ vốn của hệ thống ngân hàng. Chỉ số này chúng ta rất khó đánh giá mức độ chuẩn xác. Tuy nhiên, nhìn chung các NH VN  hiện chưa đủ vốn, NHNN cũng đã có mục tiêu tăng lượng vốn tối thiểu. Năm 2004, bộ phận chuyên môn của IMF đã đánh giá rằng nhu cầu vốn của khu vực ngân hàng sẽ vào khoảng từ 15% tới 25% GDP [5] . Việc Nhà nước tái cấp vốn cho các NHTMNN, nhằm cổ phần hóa các ngân hàng này, đã nâng cao mức độ vốn hóa của các NHTMNN, song mức độ vốn hóa này hiện vẫn còn thấp, nếu xét tới tốc độ tăng trưởng nhanh của tín dụng và nguy cơ mất ổn định gắn liền với các nền kinh tế đang nổi có tốc độ tăng trưởng cao. Theo đánh giá do Fitch thực hiện vào năm 2006 [6], hệ số đủ vốn (Capital Adequacy Ratio) của các NH Việt Nam ở mức trung bình khoảng 5%, thấp hơn rất nhiều so với mức của các nước châu Á mới nổi khác như 14% ở Thái Lan, 13% ở Malaixia, 22% ở Inđônêxia. Mặt khác do vẫn còn chịu tác động của chính sách tín dụng chỉ định và cơ chế áp chế tài chính, kể từ những năm 90, các NHTMNN đã trải qua nhiều giai đoạn căng thẳng vì thiếu vốn và điều này buộc chính phủ Việt Nam phải nhiều lần tái cấp vốn.

3. Nguyên nhân có thể dẫn đến những rủi ro

3.1 Nguyên nhân từ quan hệ sở hữu nhà nước

Sở hữu nhà nước cao được xem là một hình thức áp chế tài chính, ở một số nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore sở hữu nhà nước trong hệ thống ngân hàng được thực hiện một cách hiệu quả. Xét tình hình thực tế VN ta thấy cho đến nay, NHTMNN vẫn là  cho vay doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chiếm phần lớn. Điều này cũng dễ hiểu do mối quan hệ truyền thống, cùng với hình thức sở hữu, nhu cầu vay lớn và khả năng cho vay lớn của các tổ chức này, ngoài ra tâm lý ỷ lại của các NH nếu có chuyện gì thì cùng Nhà nước sẽ can thiệp. Nhà nước với chức năng quản lý toàn bộ nền kinh tế, lại là người chủ sở hữu duy nhất NHTMNN. Trước năm 2000 ta thấy tín dụng chỉ định có thể là công khai (có văn bản, do Thủ tướng ký), hoặc chỉ thị “ngầm” của các cấp chính quyền được thực hiện một cách rất phổ biến. Một số chính sách tín dụng chỉ định điển hình mà chúng ta có thể thấy là các chương trình mía đường, xi măng, giao thông, đánh bắt xa bờ, dự án thủy điện, trồng rừng… Trong những năm lại đây tình hình này đã giảm do có nhiều sức ép của việc giải quyết các khoản nợ. Khi Chính phủ yêu cầu NH cho vay, Chính phủ sẽ phải chịu trách nhiệm chuyển nguồn, bù lãi suất và trách nhiệm với nợ không thu hồi được. Tuy nhiên hình thức cho vay theo chỉ định “ngầm” lại không dễ gì giải quyết. Một số cấp chính quyền địa phương, coi NH như là nguồn tài trợ cho ngân sách khi có khó khăn, bằng cách gây áp lực buộc các NH bỏ qua kỷ luật tín dụng để tài trợ cho những dự án tài chính của mình.

Một vấn đề nữa cũng xuất phát từ sở hữu nhà nước trong hệ thống có thể dẫn đến những rủi rỏ tín dụng đó là quan hệ người ủy quyền và người thừa hành, người ủy quyền ở đây là Nhà nước hay là toàn dân, còn người thừa hành là những lãnh đạo các NH, do người ủy quyền (toàn dân) có rất ít quyền lực và thông tin để kiểm soát người thừa hành nên dẫn đến những hoạt động cho vay vì lợi ích cá nhân. Một minh chứng rõ ràng cho chúng ta thấy là xu thế hiện nay các NHTMNN chuyển hướng cho vay một cách quá mức vào tập đoàn, tổng công ty nhà nước mà thực lực tài chính rất yếu kém, nhiều dự án đầu tư kém hiệu quả, mức dư nợ nhóm khách hàng này lên tới 35 - 40% và đang báo động về chất lượng tín dụng. Điển hình là các tổng công ty thuộc ngành xây dựng, giao thông vận tải với công nợ lên tới 11 nghìn tỷ đồng mà trong đó, theo báo cáo của Bộ tài chính có tới trên 90% khoản nợ nói trên thuộc vốn vay của NHTMNN [7]. Một dấu hiệu cho thấy rủi ro rất lớn đến từ việc cho các tập đoàn vay là hệ số tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của các tập đoán, xét toàn bộ nợ trên vốn chủ sở hữu vào khoảng 1.4 lần [8]. Riêng một số công ty có tỷ lệ nợ khủng khiếp như Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 5 (Cienco 5) là 42 lần, Cienco1 là 22,5 lần, Lilama 21.5 lần, Vinashin là 21.8 lần [9]. Một điều đáng lưu ý là các tổng công ty và tập đoàn này có tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu rất thấp có công ty chỉ đạt 5%/năm, còn lại trung bình chưa đến 19%/năm, như vậy nguy cơ vỡ nợ của các công ty này rất cao, đặc biệt trong tình hình kinh tế vĩ mô có nhiều biến động như trong giai đoạn hiện nay, khiến lãi suất cho vay có thể lên tới 20%/năm. Một nguy cơ có thế dẫn đến rủi ro rất cao khi các tập đoàn vay vốn để đầu tư vào các hoạt động kinh doanh không phải là nòng cốt của mình, mà đầu tư vào các hoạt động kinh doanh có độ rủi ro cao như chứng khoán và bất động sản. Ngoài ra một số tập đoàn thành lập ngân hàng nên việc kiểm soát việc sử dụng vốn nội bộ công ty lại trở nên rất khó khăn. Hậu quả của việc cho vay chất lượng tín dụng yếu kém không chỉ là thất thoát vốn, mà nhiều dự án kém chất lượng được đưa vào thực hiện, gây tổn thất lớn về nguồn lực cho nhà nước và nhiều địa phương vốn đã rất nghèo. Nhiều cán bộ, quan chức lợi dụng tham ô làm giàu nhanh chóng.

3.2 Các nguyên nhân khác dẫn đến rủi ro

money7.jpgHệ thống ngân hàng Việt Nam phát triển rất nhanh, mức tăng trưởng tín dụng cao, các chi nhánh và NH mới thành lập tăng lên nhanh, tuy nhiên nguồn nhân lực cho hệ thống ngân hàng lại yếu và thiếu. Ví dụ điển hình là trong năm 2007 hàng trăm nhân viên và cán bộ có năng lực của NHNN và NHTMNN có năng lực nghĩ để làm việc cho các tổ chức tín dụng khác, điều này là do ngoài mức lương kém hấp dẫn, còn nguyên nhân nữa là môi trường làm việc ở NHNN và NHTMNN kém năng động, quan liêu. Xem xét tình hình chung của hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay chúng ta có thể thấy, việc áp dụng các tiêu chuẩn quản lý như Basel để quản lý ngân hàng cũng đang gặp rất nhiều khó khăn. Hiện nay cũng chưa có những tổ chức định mức tín nhiệm đủ uy tín cũng như việc thu thập thông tin đáng tin cậy để đánh giá tính hình tín dụng các doanh nghiệp từ đó có những giải pháp hữu hiệu để giảm thiểu những rủi ro cho hệ thống NH. Ngoài ra thì hệ thống giám sát và cơ sở hạ tầng pháp lý cũng chưa theo kịp với sự phát triển NH. Các sản phẩm của NH chưa đa dạng, các dịch vụ mang lại lợi nhuận chủ yếu cho các ngân hàng vẫn là hoạt động cho vay, còn doanh thu từ các dịch vụ của NH đang chiếm một tỷ phần nhỏ bé. Tất cả những điều đó càng làm tăng thêm tính rủi ro cho hoạt động của các NHTMNN.

4. Kiến nghị chính sách

4.1 Tiếp tục thúc đẩy quá trình cổ phần hóa các NHTMNN

Cho đến nay mới chỉ có Vietcombank tiến hành cổ phần hóa, nhưng nhà nước vẫn nắm giữ tới 95% cổ phần, các NHTMNN đang tiến hành thủ tục để cổ phần hóa nhưng tiến trình xảy ra rất chậm chạp và chững lại do TTCK đang đi xuống. Giảm hình thức sở hữu nhà nước trong các NH là hình thức giảm áp chế tài chính, tăng cường sự minh bạch và năng động cho các NHTMNN giảm thiểu tác động tiêu cực do chủ sở hữu là nhà nước gây nên.

4.2 Giảm thiểu tín dụng chỉ định với NHTMNN và chuyển các hoạt động cho vay chỉ định sang ngân hàng chính sách

Trong giai đoạn chuyển đổi hiện nay đôi khi chính sách tín dụng chỉ định là cần thiết cho phát triển kinh tế và thực hiện các mục tiêu xã hội, tuy nhiên nguồn tín dụng này nên chuyển cho NHCS. Trong trường nguồn vốn lớn cần đến các NHTM thì phải đảm bảo nguyên tắc tín dụng của NHTM. Các khoản vay ưu đãi, nhà nước có thể đứng ra bù lãi suất, chịu trách nhiệm về các khoản vay này.

4.3  Minh bạch hóa bộ máy lãnh đạo và quản lý của NHTMNN

Hiện nay việc bổ nhiệm, các chức vụ trong hệ thống NHTMNN vẩn mang tính chất hành chính, thiếu sự minh bạch và bị chi phối bởi các nhóm lợi ích về kinh tế và chính trị. Cải thiện được khâu này cũng có nghĩa làm giảm áp lực chi phối ngầm của các cấp chính quyền trong việc chỉ định “ngầm” các NHTMNN. Chọn được những người có tài và đức thực sự để lãnh đạo các NH và đồng thời đảm bảo tính độc lập của các NHTMNN.

4.4  Tăng cường giám sát các hoạt động cho vay của NHTMNN

Biện pháp này cũng hạn chế động cơ xấu của cán bộ NH cho vay để được “phần trăm”, lấy thành tích để lên chức. Ngoài ra thì việc giám sát này giúp giảm thiểu rủi ro khi cho các tập đoàn, tổng công ty vay với hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu quá cao như hiện nay, đồng thời hướng nguồn vốn đầu tư của xã hội vào những dự án có suất sinh lợi cao phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế đất nước.

4.5  Tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ và áp dụng các tiêu chuẩn để quản lý hệ thống ngân hàng

Năng lực đội ngũ cán bộ NH hiện nay đang yếu và thiếu do đó rất khó có thể đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh và ngày càng phức tạp của hệ thống ngân hàng, do vậy công tác đào tạo về chuyên môn và đạo đức càng phải được xem trọng là tiền đề để chúng ta có thể áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại cho hệ thống ngân hàng hiện nay.

4.6  Thành lập các tổ chức định mức tín nhiệm, cơ chế giám sát hoạt động các ngân hàng

Nhà nước nên hỗ trợ khuyến khích việc thành lập các tổ chức này, thiết lập hệ thống thông tin minh bạch về các doanh nghiệp để ngân hàng có thể lấy làm căn cứ quyết định cho vay cho vay.

4.7. Tăng cường vai trò của NHNN và hoàn thiện hệ thống pháp luật

Hiện nay NHNN vẩn thiếu tính độc lập và bị chi phối bởi các mục tiêu chính phủ và ngay cả các NHTM do vậy khó đưa ra được những chính sách độc lập và hiệu quả trong để quản lý giám sát hoạt động của các NHTM, mặt khác cơ chế pháp luật cũng thiếu minh bạch và hiệu quả nên dẫn đến chồng chéo, khó thực thi được.
 

 
Tài liệu tham khảo:

[1] Huỳnh Thế Du, Cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam: Nghiên cứu so sánh với Trung Quuốc.

[2] http://www.gic.com.vn (theo Kinh tế và Đô thị)

[3] Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN

[4] I. Tan và P. Tebbutt (2006), “The Vietnam banking system”, trong Fitch Country Report, 24/3.

[5] B. Aitken (2004), “Can Vietnam outgrow its banking sector problems ?”, trong IMF Selected Issues, SM/04/379.

[6] Dữ liệu lấy từ : IMF (2007), Global Financial Stability Report, tháng 9

[7]http://kiemtoan.com.vn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=952

[8] Báo cáo bộ tài chính tại hội nghị đổi mới doanh nghiệp nhà nước tại HN (con số tính đến 31/12/07)

[9] Giám sát các tập đoàn-Saigontimes số 19 năm 2008




Bài liên quan:

©www.SAGA.vn l Blackhole

 
Bookmark and Share
  File gắn kèm:
 
  File download:
 
Điểm trung bình:           Tổng điểm: 20/ 4 lượt bình chọn
Bình chọn:
 

+ Thêm vào Bài viết ưa thích +   

+ Xóa bỏ việc nhận tin nhắn thông báo khi có thảo luận mới cho bài viết này +   
 
Bổ sung nội dung cho bài viết và tranh luận( 4)
  blackhole (11/11/2009 11:31 AM) Có ích: 0/0    
 
© SAGA - Ngân hàng Chính sách -  Thực tế Ngân hàng Chính sách không được xem là Ngân hàng Thương mại (Ngân hàng Phát triển Việt Nam). Mặc dù mục đích của nó không phải kinh doanh mà là phân phối vốn của Chính phủ!
 
   
     
  duytrungvdb (12/07/2009 08:47 PM) Có ích: 1/1    
 
© SAGA - NHTM nhà nước -  Gửi những ai quan tâm,

Tính đến tháng 07/2009 ở Việt Nam có 05 NHTM nhà nước:
1. NH Ngoại thương Việt Nam (đã CP)
2. NH Công thương Việt Nam (đã CP)
3. NH Đầu tư &PT Việt Nam
4. NH No và PTNT Việt Nam
5. NH Phát triển Nhà ĐB SCL.

và 02 ngân hàng chính sách:
1. Ngân hàng Phát triển Việt Nam (đã 3 tuổi)
2. Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam

và mời các bạn tìm đọc báo Lao động số 151/2009 ngày 08/7/2009 để biết thêm nhiều thông tin về hệ thống ngân hàng, các tổ chức tài chính và tín dụng tại Việt Nam.
 
   
     
  Small_Bear (11/08/2008 07:15 PM) Có ích: 0/1    
 
© SAGA - Hình như không đúng -  Nếu mình nhớ ko lầm thì có đến 6 NHTM quốc doanh chứ nhỉ: Không phải 5.

   1. NH Chính sách xã hội VN
   2. NH Công thương VN
   3. NH Nông nghiệp và Phát triển nông thôn VN
   4. Ngân hàng đầu tư và phát triển VN
   5. Ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu Long
   6. Ngân hàng phát triển VN
 
   
     
  Vinafins (11/08/2008 06:22 PM) Có ích: 0/0    
 
© SAGA - Thêm được số liệu cụ thể thì hay quá -  Fins đã đọc lại các bài viết của bác. Có lẽ bài viết này là tóm tắt của một nghiên cứu nghiêm túc về "Rủi ro của các Ngân hàng Thương mại". Bài viết rất tổng quát, Fins hoàn toàn đồng ý với đánh giá và kiến nghị chính sách của bác blackhole cũng như những phát hiện về rủi ro ngân hàng tư cơ cấu cổ đông.

Tuy nhiên nếu là một bài tóm tắt, chắc bác có số liệu sâu hơn để minh hoạ. Nếu có thể mong bác chia sẻ một ít số liệu, đặc biệt là số liệu về nợ sấu của các ngân hàng.

5 chỉ tiêu về nợ xấu mà bác nêu ra, nếu biết thêm thì hay biết mấy. Thèm quá.

Còn không có thì được ăn một món ngon mà thiếu mất nước chấm, vẫn " nhàn nhạt" làm sao ấy. Bâng khuâng lắm.

 
   
     
 
Thảo luận (1) Thành viên ưa thích (8)
Trang trước   -  1/1  -   Trang sau
 
  nguyendacdat (26/04/2009 04:24 PM)  
 
Chính xác là 4 Ngân hàng thương mại nhà nước , và 2 Ngân hàng chính sách và phát triển Nhà nước.
 
   
     
 
     Gửi thảo luận (Vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu. Nếu bạn chưa có bộ gõ Tiếng Việt, nhấn vào đây  
     
Tiêu đề 
   
 
( Tối đa1MB)
 
    (Để tham gia thảo luận, bạn cần đăng nhập)  
 
 
 
:: CÁC BÀI LIÊN QUAN
 
 
:: CÁC BÀI MỚI TRONG NGÀY
 
 
:: CÁC BÀI TIẾP THEO
Giải quyết khủng hoảng với công cụ PR: tình huống sữa Dielac
Bảy ngày giông bão ở Nutifood
Quản trị nhân sự trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Trong cơn nguy khốn mới biết ai là anh hùng
Cơn bão sa thải sắp "đổ bộ" vào Việt Nam
CEO Bear Stearns rời ghế
Cuối tuần suy nghĩ về doanh nhân và doanh nghiệp VN sau 1 năm WTO - điều gì phía trước?
 
 
 
 

Đăng ký:216481 (Vàng: 21 - Bạc:11)

Thảo luận:42710

Thuật ngữ tài chính-kinhdoanh:4963

Hỏi đáp kinh tế-kinh doanh:1494

Counter:
hit counter

Chăm sóc kỹ thuật bởi  NVS

TRANG CHỦ  |  GIỚI THIỆU  |  SITEMAP |  ĐỐI TÁC  |  ĐIỀU KHOẢN  |  Ý KIẾN  |  LIÊN HỆ/QUẢNG CÁO
Liên hệ quảng cáo:
CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ TRỰC TUYẾN IP (IP MEDIA JSC)
Email: info@saga.vn
 
Hà Nội: Tầng 26 Xuân Thủy Tower, 173 Xuân Thủy, Q Cầu Giấy – ĐT: (04) 39446509
TP HCM: Lầu 5, 293 Điện Biên Phủ, P. 15, Q. Bình Thạnh - ĐT:(08) 54042168
Giấy phép số 362/GP-BC do Cục Báo chí, Bộ Văn hoá-Thông tin cấp ngày 05/12/2006.
® Ghi rõ nguồn "saga.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.