Tìm kiếm  
 
Doanh nghiệp thành công Giới thiệu sản phẩm Nhượng quyền và giá trị thương hiệu Vườn ươm thương hiệu
Bạn đang ở :  Trang chủ » Thế giới KD » Thương hiệu » Nhượng quyền và giá trị thương hiệu

KIẾN THỨC KINH DOANH

CUỘC SỐNG

THUẬT NGỮ

 

SỰ KIỆN - CHUYÊN ĐỀ

BÀI HAY

Một số khái niệm về nhượng quyền thương mại
Nghiên cứu mô hình định giá thương hiệu
Bán hàng đa cấp, những điều cần suy nghĩ
Nhượng quyền thương mại - Nhà nhượng quyền Việt Nam cần biết?
Phát triển nhượng quyền kinh doanh FRANCHISE tại Việt Nam
Nguyên lý phát triển của hệ thống bán hàng đa cấp
Thất bại và chấp nhận thất bại (Phần 1): Đặt nhầm tên
Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam- Làn sóng nhượng quyền sau hội nhập
Làm rõ khái niệm Thương Hiệu
Gloria Jean đến Việt Nam: Cuộc chay đua của Thỏ và Rùa
... Xem toàn bộ

BÀI BÌNH CHỌN

  Nghiên cứu mô hình định giá thương hiệu  
  Nghiên cứu mô hình định giá thương hiệu (Phần cuối)  
  Nhượng quyền thương mại - Nhà nhượng quyền Việt Nam cần biết?  
  Trao đổi về Góp vốn bằng thương hiệu  
  Băn khoăn của tôi về con đường đến với giá trị thực của thương hiệu  
  Nhượng quyền thương mại: Lịch sử, hiện tại và tương lai  
  Hãy thử cùng nhau định giá Thương Hiệu Bia 999!  
  Cathay Pacific có vui nghe Pacific Airlines đổi tên?  
  Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam- Làn sóng nhượng quyền sau hội nhập  
  Gloria Jean đến Việt Nam: Cuộc chay đua của Thỏ và Rùa  
... Xem tất cả
 
ĐĂNG NHẬP
  Tên truy cập:
  Mật khẩu:

Quên mật khẩu

Tại sao Saga?

1 Bài viết vàng / 17 Bài viết bạc

  Liên hệ nóng:
YM: sagarina 
sagavietnam 
     Email: info@saga.vn

 

Người gửi: gaubo  --   29/05/2008 10:55 AM    

Trao đổi về Góp vốn bằng thương hiệu

( Bình chọn: 6   --  Thảo luận: 21 --  Số lần đọc: 6042)

Nhân có bạn duongqtdncn  đặt câu hỏi liên quan tới vấn đề này nên tôi viết bài này để bạn và các Saganors cùng tham khảo, trao đổi:

Trước bài viết này, đã có nhiều bài viết khác trong và ngoài SAGA, của nhiều nhà nghiên cứu, luật sư,... về vấn đề thương hiệu và sử dụng thương hiệu làm vốn góp kinh doanh. Với chuyên môn của mình, tôi cũng xin đóng góp một số nhận định về vấn đề này.

Thứ nhất, xin khẳng định ngay các Chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành không hề ngăn cấm việc góp vốn bằng nhãn hiệu (hay “thương hiệu” như các doanh nghiệp thường gọi). Chuẩn mực kế toán chỉ hướng dẫn phương pháp kế toán để phản ánh các nghiệp vụ phát sinh chứ không quy định những nghiệp vụ nào doanh nghiệp được phép tiến hành (và đương nhiên không cấm doanh nghiệp góp vốn bằng nhãn hiệu).

Có tác giả đã viện dẫn quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định 11/2005/NĐ-CP để chứng minh rằng “nhãn hiệu” đủ điều kiện là tài sản, qua đó cho rằng quy định của Chuẩn mực kế toán hiện hành là không hợp lý khi không cho phép ghi nhận thương hiệu (tạo ra từ nộ bộ doanh nghiệp) là tài sản cố định vô hình. Có lẽ tác giả đã nhầm lẫn giữa tiêu chuẩn để xác định một khoản mục thỏa mãn định nghĩa tài sản và tiêu chuẩn để ghi nhận tài sản đó trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

reportreview.JPGChuẩn mực kế toán hiện hành không hề bác bỏ sự tồn tại của tài sản cố định vô hình là nhãn hiệu. Trên thực tế đối chiếu với Chuẩn mực kế toán số 04 – TSCĐ vô hình và Chuẩn mực Kế toán số 01 - Chuẩn mực chung thì “nhãn hiệu” hoàn toàn thoả mãn định nghĩa của một tài sản (doanh nghiệp kiểm soát được - nếu đã đăng ký bảo hộ; có khả năng mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai; hình thành từ các giao dịch trong quá khứ). Tuy nhiên, một khoản mục thoả mãn định nghĩa tài sản cố định vô hình không có nghĩa là nó sẽ được ghi nhận trên báo cáo tài chính. Để một khoản mục thoả mãn định nghĩa tài sản được ghi nhận thì còn phải thoả mãn 4 tiêu chuẩn nữa (Đoạn 16 Chuẩn mực Kế toán số 04), trong đó có yêu cầu “Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy” (vì sao lại có quy định này thì xin được bàn vào một dịp khác). Đây là lý do chính vì sao tài sản cố định vô hình tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp không được ghi nhận là tài sản của doanh nghiệp. 

Trong trường hợp góp vốn, tác giả cho rằng nhãn hiệu đủ điều kiện ghi nhận là tài sản cố định vô hình vì giá trị được xác định bởi các thành viên, cổ động sáng lập theo nguyên tắc nhất trí. Như vậy, theo tác giả thì giá trị tài sản vô hình được xác định theo phương thức này là “đáng tin cậy”? Về bản chất, các thành viên sáng lập chính là chủ doanh nghiệp, vì vậy sự thống nhất giữa những thành viên này thực chất chính là sự thống nhất trong “nội bộ” doanh nghiệp. Do yếu tố không khách quan này mà việc xác định giá trị của thương hiệu dùng để góp vốn không bảo đảm tính “đáng tin cậy”, theo đó không thoả mãn điều kiện ghi nhận tài sản cố định vô hình. Ngoài ra, thực tế quá trình cổ phần hoá các tổng công ty nhà nước ở Việt Nam hiện nay cho thấy phần lớn cổ phần được sở hữu bởi các doanh nghiệp vốn là thành viên của các tổng công ty trước đây. Giá trị thương hiệu trong các doanh nghiệp cổ phần hoá này thường được xác định bởi công ty mẹ (là cổ đông chi phối), do đó không phải là giá trị hợp lý (là giá trị được trao đổi giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá) để được coi là đáng tin cậy. Như vậy, việc không cho phép ghi nhận giá trị nhãn hiệu là tài sản cố định vô hình trên báo cáo tài chính trong trường hợp này là có căn cứ.

Thứ hai, có tác giả cho rằng việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ đã trở thành thông lệ rất phổ biến trên thế giới nên quy định của chuẩn mực kế toán Việt Nam không cho phép ghi nhận tài sản vô hình là không phù hợp. Tuy  nhiên, tác giả không đề cập rõ những tài sản vô hình đem đi góp vốn đó đã được ghi nhận trên báo cáo tài chính của bên đi góp vốn hay chưa. Nếu như đó là những tài sản đã được ghi nhận trên báo cáo tài chính của bên đi góp vốn theo đúng chuẩn mực kế toán hiện hành thì doanh nghiệp hoàn toàn có thể sử dụng để góp vốn và bên nhận có thể được ghi nhận là tài sản cố định vô hình.
TNHH.gif
Vấn đề chỉ nảy sinh khi các doanh nghiệp sử dụng những tài sản vô hình chưa được ghi nhận trên báo cáo tài chính của mình để góp vốn (ví dụ: Trên báo cáo tài chính của Tổng Công ty A không hề có khoản mục tài sản “Thương hiệu A” nhưng khi định giá một doanh nghiệp thành viên để cổ phần hoá thì lại xác định giá trị “Thương hiệu A” là 10 tỷ đồng, tính vào vốn góp của Tổng Công ty A trong công ty cổ phần mới). Trong trường hợp này giá trị “Thương hiệu A” sẽ không được ghi nhận trên báo cáo tài chính của công ty cổ phần mới thành lập theo chuẩn mực kế toán hiện hành. Cũng xin nói thêm là Chuẩn mực Kế toán quốc tế cũng như Chuẩn mực kế toán Mỹ đều không cho phép ghi nhận tài sản vô hình tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp là tài sản.

Cuối cùng, cũng tác giả trên cho rằng nếu không công nhận giá trị thương hiệu khi góp vốn thì doanh nghiệp sẽ không có nguồn để hoàn trả vốn góp cho nhà đầu tư vì không được khấu hao tài sản này. Trên thực tế nguồn để doanh nghiệp hoàn trả vốn cho nhà đầu tư là luồng tiền tạo ra từ hoạt động của doanh nghiệp sau khi thanh toán cho các chủ nợ. Như vậy, yếu tố quyết định doanh nghiệp có đủ khả năng hoàn vốn cho nhà đầu tư hay không nằm ở hiệu quả hoạt động kinh doanh chứ không phải ở việc có khấu hao một tài sản hay không (có chăng là nếu nhãn hiệu được chấp nhận là tài sản thì khấu hao sẽ được coi là chi thí hợp lệ, theo đó doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được một khoản thuế). Nếu như quả thực thương hiệu có khả năng tạo ra lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp thì việc có ghi nhận nó trên bảng cân đối kế toán hay không (hoặc có trích khấu hao hay không) không hề ảnh hưởng đến khả năng tạo tiền của doanh nghiệp, hay khả năng hoàn vốn cho nhà đầu tư. 

Tóm lại,
việc không cho phép ghi nhận tài sản cố định vô hình (cụ thể là thương hiệu) tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp như quy định hiện hành của Chuẩn mực kế toán Việt Nam là phù hợp với thông lệ quốc tế. Tất nhiên, có ý kiến cho rằng chuẩn mực kế toán quốc tế cũng chưa phải là hoàn hảo. Điều này là đúng. Tuy nhiên, trong điều kiện chúng ta đang hội nhập với thế giới thì việc bảo đảm một hệ thống chuẩn mực kế toán phù hợp với chuẩn mực quốc tế (mặc dù chưa hoàn hảo) là cần thiết và mang lại nhiều lợi ích.

 
Bookmark and Share
  File gắn kèm:
 
  File download:
 
Điểm trung bình:           Tổng điểm: 30/ 6 lượt bình chọn
Bình chọn:
 

+ Thêm vào Bài viết ưa thích +   

+ Xóa bỏ việc nhận tin nhắn thông báo khi có thảo luận mới cho bài viết này +   
 
Bổ sung nội dung cho bài viết và tranh luận( 20)
  Thanhs (28/09/2008 11:28 PM) Có ích: 1/1    
 
© SAGA - Đồng ý với bạn dinhvan! -  Mình cũng có cùng ý như bạn dinhvan.

Đọc được bài viết này của bạn gaubo, và các thảo luận, Thanhs thấy thực sự thú vị và hấp dẫn vì những luận điểm được đưa ra thảo luận. Có thể chốt lại vấn đề chúng ta đang quan tâm ở đây là:

1. Tài sản vô hình của Doanh nghiệp có thể được sử dụng làm "tài sản góp vốn" hay không?

2. Nếu được các bên nhất trí đồng thuận là tài sản góp vốn, thì tài sản này có  được ghi nhận trong hệ thống báo cáo kế toán (theo Luật Việt Nam) hiện hành hay không?

---

Thanh's tham gia ý kiến với câu hỏi 1 như sau :

Bạn Gaubo: Ví dụ đơn giản, giả sử bạn thành lập công ty sản xuất phần mềm ABC. Sau đó bạn bỏ 100 tỷ đô la mua thương hiệu Microsoft. Như vậy, liệu bạn có thể ghi nhận một khoản “Thương hiệu Microsoft” với giá trị 100 tỷ trên BCTC của Công ty ABC? Một ví dụ ngược lại, nếu Microsoft bây giờ đổi tên thành Công ty ABC thì giá trị thương hiệu Microsoft sẽ chẳng còn gì cả, trong khi thương hiệu ABC sẽ có giá trị khoảng 58 tỷ đô la (giá trị thương hiệu Microsoft hiên tại).

Lập luận của các bạn rất vững về lý luận và các quy định kế toán. Mình không tham gia ý kiến trên phương diện này.

Trên phương diện thực tế, trong tất cả các hoạt động mua bán và sát nhập của các tập đoàn, thì giá trị thương hiệu luôn là vấn đề đầu tiên được đặt lên bàn cân.

Giả định bạn Gaubo đưa ra có một điểm không hợp lý, đó là công ty sở hữu các thương hiệu có giá trị, không nhất định có tên giống như tên thương hiệu, và việc các công ty đó thay đổi tên gọi (thay đổi chủ sở hữu/ đổi tên doanh nghiệp...) thì Tên thương hiệu vẫn hoàn toàn không đổi. Việc đổi tên thương hiệu, cũng đồng nghĩa với việc thay đổi nhận thức và độ nhận biết về thương hiệu của Khách hàng mục tiêu, và đồng nghĩa với một ngân sách khổng lồ giải trình cho sự thay đổi đó. Thực chất, giá trị thương hiệu không phải là tài sản do Doanh nghiệp quyết định, mà do thị trường và các khách hàng mục tiêu quyết định.

Cũng chính vì sự đặc biệt này của Tài sản Thương hiệu, mà giá trị tài sản thương hiệu mặc dầu có độ thăng trầm lớn phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhưng lại có tính bền vững và có khả năng trường tồn, vượt ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể phá sản, nhưng giá trị thương hiệu vẫn tồn tại.

Chốt lại, quan điểm của Thanh's trong vấn đề này là, Tài sản Thương hiệu (tài sản sở hữu trí tuệ) cũng được coi là tài sản góp vốn.

Với giả định ban đầu "tài sản thương hiệu" của bên B được định giá là 1 tỷ, trong khi tài sản vốn góp của bên A chỉ là 500 triệu, do vậy bên B đương nhiên nắm vị trí chi phối. Có thể điều này khiến một số bạn cảm thấy không thoả đáng, nhưng chúng ta có thể nhìn nhận vấn đề này như sau:

a- Nếu Tài sản thương hiệu của bên B trị giá 1tỷ đồng, điều đó cũng tương đương với việc tài sản thương hiệu đó chắc chắn đem lại một mức doanh thu bình quân hàng năm không dưới 1 tỷ đồng. Mức lợi nhuận bình quân có thể đạt được (dự kiến khoảng 10% - là mức lợi nhuận trung bình trong các ngành tại thời điểm này) khoảng 100triệu/ năm.

b- Tài sản vốn góp của bên A trị giá 500 triệu, chắc chắn đem lại một mức lợi nhuận khoảng 18%/năm nếu mang tiền gửi vào các định chế tài chính như ngân hàng (tính cho thời điểm hiện tại). Tuy nhiên không có gì đảm bảo việc 500 triệu đó đem lại một mức doanh thu cụ thể hàng năm.

Như vậy, có thể thấy ngay lý do vì sao trong các hoạt động mua bán và sát nhập, các công ty và các nhà đầu tư luôn tìm cách mua lại hoặc đầu tư vốn vào những thương hiệu giá trị (điều này cũng đúng trong thị trường chứng khoán).

Theo như ví dụ trên, trong thực tế, nếu bên A chỉ góp vốn bằng tiền (không kèm theo bất cứ khả năng nào khác như: kỹ năng và kinh nghiệm/ bộ máy tổ chức/ các mối quan hệ, danh tiếng cá nhân...) thì đương nhiên, bên A sẽ chỉ được tính tỷ lệ vốn góp tương đương là 33%.

Trong trường hợp bên A là một tổ chức, hoặc là cá nhân có danh tiếng (thương hiệu cá nhân), thì chính các yếu tố này cũng được định giá là "giá trị tài sản thương hiệu". Dựa trên sự thống nhất và đồng thuận giữa hai bên góp vốn, tỷ lệ vốn bằng tiền mặt và bằng "tài sản thương hiệu" sẽ được cân đối và tính toán hợp lý.

----

Trong vấn đề thứ 2: Theo chế độ kế toán của Việt Nam hiện hành, Tài sản Thương hiệu có được ghi nhận trong bảng tổng kết tài sản hay không?

Theo như mình hiểu là Không. Lý do: Tài sản thương hiệu là tài sản vô hình. Bất cứ phương pháp định giá nào cũng chỉ mang tính tương đối.

Trường hợp Doanh nghiệp chi tiền mua Thương hiệu, chi phí này thực tế được hạch toán ở đâu?

- Mua Một thương hiệu cũng giống như đầu tư một số lượng cổ phiếu nhất định. Doanh nghiệp kỳ vọng thu được nhiều hơn giá trị (phải trả) của tài sản trong một khoảng thời gian nhất định (thường được tính dài hạn 5-10năm). Các giá trị này không những là doanh thu và lợi nhuận mà còn là khách hàng và thị trường.

- Giống như hoạt động đầu tư, chi phí mua thương hiệu sẽ được hạch toán trong phần Chi phí đầu tư. Chi phí này được phân bổ trong một khoảng thời gian nhất định, thường không dưới 5 năm.

- Giống như tài sản được đầu tư (không phải tài sản cố định được khấu hao hàng năm và trừ dần vào nguyên giá), tài sản Thương hiệu sẽ được tái định giá hàng năm để xác định lại giá trị tài sản.

- Lợi nhuận của hoạt động đầu tư Tài sản Thương hiệu đến từ hai nguồn:
+ Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh (sản phẩm của Thương hiệu)
+ Lợi nhuận (hoặc lỗ ) được tính bằng giá trị chênh lệch giữa chi phí đầu tư và giá trị tài sản thương hiệu tính đến thời điểm định giá.

 
   
     
  longplt (25/08/2008 10:12 AM) Có ích: 3/3    
 
© SAGA - Tình huống thực tế -  Một chủ đề hay khiến gaubo phải dành rất nhiều thời gian để viết một bài rất dài.

Tôi muốn bổ sung thêm cho thảo luận của gaubo bằng một tình huống thực tế. Tôi thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp cho mục đích cổ phần hoá cho một công ty Xây dựng thuộc bộ XD. Giá xác định vào khoảng 5 tỷ đồng (dựa trên phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp ban hành theo nghị định của chính phủ). Vào một ngày đẹp trời, khi báo cáo định giá chuẩn bị "ra lò", Bộ XD có công văn đề nghị ghi nhận giá trị Thương hiệu của công ty vào giá trị định giá là 10 tỷ đồng không theo một phương pháp định giá nào.

Và kết quả là giá trị công ty được định giá là 15 tỷ, tất nhiên với vai trò người định giá tôi cũng có biện pháp để bảo vệ uy tín của tôi trước công chúng.

 
   
     
  gaubo (25/08/2008 04:34 AM) Có ích: 3/3    
 
© SAGA - Trao đổi thêm với bạn LanNhusme -  Mấu chốt của vấn đề ở đây là chúng ta khác nhau về quan điểm. Bạn cho rằng việc định giá thương hiệu bởi các bên góp vốn (bất chấp việc thương hiệu đó chưa được ghi nhận trên BCTC của bên đi góp vốn) là “đáng tin cậy”, còn tôi thì cho rằng nó không thoả mãn tiêu chuẩn “đáng tin cậy” dựa trên hệ thống chuẩn mực kế toán hiện hành.

Trước khi đi vào chi tiết, tôi xin nói rõ rằng tôi không có ý định “chứng minh” việc ghi nhận giá trị thương hiệu trong trường hợp này có hợp lý hay không, bởi tôi ý thức rõ rằng trong khoa học xã hội (đặc biệt là lĩnh vực đòi hỏi phải sử dụng nhiều “xét đoán nghề nghiệp” như Kế toán) chúng ta không thể “chứng minh” điều gì là đúng cả. Vì thế, những điều nêu dưới đây chỉ là lập luận của tôi để giải thích vì sao không nên ghi nhận giá trị thương hiệu hình thành do góp vốn trên BCTC, dựa trên cơ sở những nguyên tắc chung về thực hành kế toán hiện hành. Lưu ý, tôi không nói rằng việc không ghi nhận giá trị thương hiệu là giải pháp hoàn hảo, bởi chúng ta đều biết thương hiệu có tồn tại, và việc không ghi nhận giá trị thương hiệu khiến cho tài sản của doanh nghiệp bị understated. Tuy nhiên, giữa hai tính chất relevancy và reliability của thông tin Kế toán, các nhà soạn thảo chuẩn mực hiện nghiêng về RELIABILITY. Và đó là lý do chính khiến thương hiệu không được ghi nhận như một TSCĐVH trong trường hợp chúng ta đang thảo luận.

Ghi nhận giá trị thương hiệu trên BCTC có hợp lý?

Tình huống chúng ta đang tranh luận: Doanh nghiệp A có thương hiệu A được định giá 1 tỷ đồng, nhưng giá trị thương hiệu này không được ghi nhận trên BCTC của A theo chuẩn mực kế toán hiện hành. Doanh nghiệp B muốn tận dụng thương hiệu A nên đề nghị góp vốn với A để thành lập Doanh nghiệp C. Doanh nghiệp B góp toàn bộ tài sản trị giá 900 triệu đồng, doanh nghiệp A chỉ góp “thương hiệu A”, được hai bên thống nhất là 1 tỷ đồng. Như vậy Doanh nghiệp A nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp mới C.

Câu hỏi: Doanh nghiệp C có được ghi nhận một khoản TSCĐVH là Thương hiệu A với giá trị 1 tỷ đồng trên BCTC của mình hay không?

Ý kiến của tôi: dựa trên những quy định hiện hành, Doanh nghiệp C không được ghi nhận giá trị thương hiệu 1 tỷ đồng trên BCTC của mình. Lý do: việc xác nhận giá trị thương hiệu này không bảo đảm “tính tin cậy” (reliability) theo chuẩn mực kế toán hiện hành. Đây cũng chính là lý do doanh nghiệp A không được ghi nhận khoản thương hiệu 1 tỷ đồng trên BCTC của mình ngay từ đầu.

Bạn LanNhusme cho rằng việc xác định giá trị 1 tỷ đồng là “đáng tin cậy” với lý do: các thành viên góp vốn “chịu trách nhiệm” về việc xác định giá trị thương hiệu này. Tôi cho rằng lập luận này không thuyết phục bởi lý do sau: Việc xác định giá trị thương hiệu mang nặng tính chủ quan, và không có bất kỳ một tiêu chuẩn nào để xác định giá trị thương hiệu chính xác là bao nhiêu. Vì thế không có căn cứ nào để khẳng định rằng các thành viên góp vốn ĐÃ “gian lận” khi xác định giá trị thương hiệu. Mà một khi đã không có cơ sở để xác định họ gian lận, thì làm sao có thể bắt họ “chịu trách nhiệm” được. Trên thực tế đi làm tôi có điều kiện tiếp xúc với rất nhiều doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá, trong đó có phát sinh “thương hiệu” như trong ví dụ trên. Phải nói là các cổ đông (ngoài nhà nước) cực kỳ bức xúc với việc “ông” Nhà nước bỗng nhiên có một khoản góp vốn bằng “thương hiệu” vài chục tỷ đồng không biết ở đâu ra. Khoản “thương hiệu’ này cho phép ông Nhà nước nắm một tỷ lệ cổ phần khống chế, kèm theo đó là một phần lợi nhuận được “chia” từ túi các cổ đông ngoài nhà nước trong các năm sau đó, mặc dù (theo các cổ đông ngoài nhà nước) trên thực tế doanh nghiệp mới (sau khi cổ phần hoá) chẳng hưởng lợi gì từ cái gọi là “thương hiệu” đó cả. Đó, hội đồng quản trị họ “chịu trách nhiệm” như vậy đó. Bạn có thể lập luận trường hợp doanh nghiệp nhà nước cổ phần khác với trường hợp các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tự nguyện góp vốn. Xin thưa, tình trạng tương tự hoàn toàn có thể xảy ra khi các cổ đông lớn thông đồng với nhau để “thổi” giá trị thương hiệu nhằm chiếm dụng vốn từ các nhà đầu tư nhỏ.

Bạn LanNhusme cũng bổ sung cho lập luận của mình bằng ví dụ: thay vì bên A góp vốn bằng thương hiệu 1 tỷ đồng thì bên B mua thương hiệu A với giá 1 tỷ đồng, sau đó bên A góp vốn bằng tiền 1 tỷ đồng còn bên B góp vốn bằng thương hiệu. Bằng cách đó Công ty C sẽ được ghi nhận giá trị thương hiệu trên BCTC của mình. Tôi cho rằng lập luận này cũng không thuyết phục với các lý do sau:

- Một, như tôi đã có lần thảo luận, việc xem xét các nghiệp vụ phải được dựa trên bản chất chứ không phải hình thức giao dịch (nguyên tắc substance over form). Việc mua thương hiệu rồi sau đó góp vốn về bản chất giống như việc bên A trực tiếp góp vốn. Do đó cũng không thể ghi nhận giá trị TSCĐVH được.

- Hai, ngay cả khi bên B mua thương hiệu A với giá trị 1 tỷ đồng rồi góp vốn thì cũng không đủ cơ sở để xác định giá trị thương hiệu 1 tỷ đồng là đáng tin cậy. Trong trường hợp này giao dịch mua thương hiệu không phải là một arm’s length transaction, bởi các bên đang cố tình dàn xếp một giao dịch cho mục đích ghi nhận một tài sản trên BCTC, không phải là một giao dịch thuần tuý kinh doanh. Do đó, không đủ độ tin cậy để xác định giá mua là fair value. Ngoài ra, bạn LanNhusme lưu ý việc xác định giá trị thương hiệu không phải là dựa hoàn toàn trên “cơ sở chứng từ”. Bản chất sâu xa của giá trị tài sản là giá trị hiện tại của lợi ích kinh tế tương lai do tài sản mang lại. Vì thế, việc Công ty B bỏ 1 tỷ mua thương hiệu A không đồng nghĩa với B có thể ghi nhận giá trị thương hiệu A 1 tỷ đồng trên BCTC. Ví dụ đơn giản, giả sử bạn thành lập công ty sản xuất phần mềm ABC. Sau đó bạn bỏ 100 tỷ đô la mua thương hiệu Microsoft (chúng ta giả định ban lãnh đạo Microsoft sẵn sàng phá huỷ danh tiếng của họ để cho phép bạn được dán nhãn Microsoft lên các sản phẩm của công ty bạn mà không cần kiểm định chất lượng). Trong trường hợp này ai cũng biết các phần mềm của ABC có dán nhãn Microsoft có chất lượng khác hẳn Microsoft thật. Khi đó việc dán nhãn Microsoft chẳng tạo ra một chút giá trị gia tăng nào cho sản phẩm của bạn cả. Như vậy, liệu bạn có thể ghi nhận một khoản “Thương hiệu Microsoft” với giá trị 100 tỷ trên BCTC của Công ty ABC? (bạn có đầy đủ chứng từ chứng minh bạn đã bỏ 100 tỷ ra để mua “thương hiệu Microsoft”). Một ví dụ ngược lại, nếu Microsoft bây giờ đổi tên thành Công ty ABC thì giá trị thương hiệu Microsoft sẽ chẳng còn gì cả, trong khi thương hiệu ABC sẽ có giá trị khoảng 58 tỷ đô la (giá trị thương hiệu Microsoft hiên tại). Các ví dụ này cho thấy thương hiệu là một loại tài sản đặc biệt, chứ không đơn giản cứ dựa vào số tiền mua hay các hợp đồng là có thể “xác định giá trị một cách đáng tin cậy”.

- Ba, giả sử Công ty C ghi nhận khoản thương hiệu A 1 tỷ đồng trên BCTC của mình. Công ty A nắm quyền kiểm soát Công ty C, do đó sẽ phải lập BCTC hợp nhất bao gồm cả Công ty C. Trên BCTC hợp nhất của A sẽ có khoản “thương hiệu A” trị giá 1 tỷ đồng. Như vậy vô hình chung Công ty A đã thực hiện ghi nhận một khoản tài sản cố định vô hình nội sinh (internally generated intangibles), trái với chuẩn mực kế toán hiện hành.

- Bốn, với kiến thức hạn hẹp của mình, tôi không biết có công ty nào đã thực hiện việc góp vốn bằng thương hiệu rồi ghi nhận nó trên BCTC của công ty nhận vốn góp (trừ các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá ở VN – mà tôi cho là một việc làm không phù hợp với thông lệ). Nếu bạn có thể cho một vài ví dụ thực tế về các công ty góp vốn bằng thương hiệu sau đó ghi nhận giá trị thương hiệu trên BCTC thì lập luận của bạn sẽ có sức thuyết phục hơn nhiều.


Ghi nhận giá trị thương hiệu - để làm gì?

Chúng ta mải mê tranh luận xem có nên ghi nhận giá trị thương hiệu do góp vốn hình thành hay không, mà quên chưa thảo luận xem ghi nhận như vậy để làm gì? Chúng ta thử xem qua vài lý do mà những người ủng hộ việc ghi nhận giá trị thương hiệu nêu ra:

- Lý do quan trọng nhất có lẽ là việc xác ghi nhận giá trị thương hiệu sẽ cung cấp thông tin đầy đủ hơn cho các nhà đầu tư về giá trị của doanh nghiệp. Nghe có vẻ hợp lý. Vậy ta thử xem xét ví dụ sau: Giá trị thị trường của Công ty McDonald hiện tại khoảng 71 triệu đô la. Giá trị thương hiệu McDonald hiện tại được định giá khoảng 30 tỷ đô la, và không được ghi nhận trên BCTC của McDonald. Bây giờ ta giả sử thương hiệu McDonald được ghi nhận trên BCTC với giá trị 30 tỷ đô la. Liệu giá trị thị trường của McDonald có tăng thêm sau khi thương hiệu được ghi nhận? Nếu thị trường thực sự đánh giá thương hiệu McDonald ở mức 30 tỷ đô la thì câu trả lời là KHÔNG. Nhưng nếu việc ghi nhận thương hiệu hay không chẳng có ảnh hưởng gì tới giá trị doanh nghiệp thì cố gắng xác định một con số (không chính xác) để ghi vào BCTC để làm gì?

- Có ý kiến cho rằng ghi nhận giá trị thương hiệu trên BCTC sẽ cho phép doanh nghiệp giảm thuế nhờ khấu hao thương hiệu. Quan điểm này cũng có vấn đề. Thuế TNDN được xác định theo Luật Thuế chứ không phải theo chuẩn mực kế toán. Tại Việt Nam, Tổng cục Thuế đã có Công văn số 3539 (20/9/2006) không coi khấu hao thương hiệu do góp vốn là chi phí hợp lệ.

- Cho phép ghi nhận giá trị thương hiệu sẽ khuyến khích các doanh nghiệp góp vốn bằng thương hiệu, đẩy mạnh hợp tác kinh doanh? Cũng chẳng thuyết phục. Nếu góp vốn bằng thương hiệu thực sự hiệu quả thì chẳng cần phải ghi nhận, người ta vẫn góp vốn. Nếu thương hiệu thực sự có giá trị thì thị trường sẽ chấp nhận nó, và giá trị của nó đã được bao gồm trong giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp.

Tóm lại, cả ý kiến ủng hộ và không ủng hộ việc ghi nhận giá trị thương hiệu do góp vốn hình thành đều có những điểm hợp lý. Tuy nhiên, dựa trên các chuẩn mực kế toán và thông lệ hiện hành, thương hiệu do góp vốn hình thành không thoả mãn các điều kiện để được ghi nhận trên BCTC của các doanh nghiệp.

 
   
     
  longplt (20/08/2008 03:50 PM) Có ích: 3/3    
 
© SAGA - Cần phải nghiên cứu lại nguyên tắc "Substance over form" -  Vấn đề Jetsta-Pacific: nhãn Jetsta không có trên BS của Jetsta Pacific là do nguyên tắc của hạch toán kế toán: phải trên cơ sở chứng từ. Nếu là bản Hợp Đồng nhượng quyền nhãn hiệu thì khác, HĐ góp vốn thì khác và HĐ chuyển nhượng vốn hay chuyển nhượng cổ phần thì lại khác và ghi nhận vào BS trên cơ sở đối tượng của các HĐ này.

Đúng như gaubo nói, bạn cần phải nghiên cứu lại nguyên tắc "Substance over form" trước khi đi vào thảo luận thêm.

 
   
     
  LanNhusme (20/08/2008 09:30 AM) Có ích: 2/2    
 
© SAGA - Xin bàn thêm -  Vấn đề Jetsta-Pacific: nhãn Jetsta không có trên BS của Jetsta Pacific là do nguyên tắc của hạch toán kế toán: phải trên cơ sở chứng từ. Nếu là bản Hợp Đồng nhượng quyền nhãn hiệu thì khác, HĐ góp vốn thì khác và HĐ chuyển nhượng vốn hay chuyển nhượng cổ phần thì lại khác và ghi nhận vào BS trên cơ sở đối tượng của các HĐ này. Nhượng quyền nhãn hiệu hay chuyển nhượng cổ phần thì đã có chuẩn mực hướng dẫn hạch toán cụ thể (khoản mục TSVH đối với việc mua quyền sử dụng nhãn hiệu và khoản mục vốn cổ phần đối với chuyển nhượng cổ phần). Tuy nhiên, về vấn đề góp vốn bẵng nhãn hiệu thì chưa có quy định cụ thể của chuẩn mực do đó phải sử dụng suy luận và căn cứ dựa trên bản chất của giao dịch để hạch toán.

Bạn longpt đồng ý với tôi là sẽ hạch toán vào TSVH giá trị nhãn A nếu có bên C độc lập mua nhãn này. Như thế nào gọi là "bên C độc lập"? độc lập với bên nào? và bên B như đã giả định có độc lập với bên A? Giả sử bây giờ có đối tác C hoàn toàn độc lập với A và B đến đề cập với A để mua nhãn A và sau đó thành lập cty C. Lúc này A và C đều là cổ động sáng lập của cty C, vậy A và C bây giờ có vi phạm tính khách quan do sự thống nhất trong nội bộ mà bài viết đã đề cập?

Ví dụ thực tế hơn, tôi và bạn longpt không hề quen biết hay có mối quan hệ gì với nhau. Một ngày tình cờ tôi được biết thương hiệu longpt rất nổi tiếng trong giới chứng khoán và tôi tìm đến bạn để hợp tác theo kiểu dùng thương hiệu longpt để gắn vào cty tôi định thành lập là cty B vởi tỷ lệ của bạn longpt là 51% (tôi tự định thấy cái giá này thực sự xứng đáng). Lúc này, tôi và bạn longpt từ chỗ không có mối quan hệ gì trở thành cổ đông nội bộ với nhau trong cty B vừa thành lập này. Vậy cái giá 51% mà tôi trả cho bạn longpt để bạn có quyền là cổ đông sáng lập trong B có đảm bảo tính khách quan?

Quay trở lại vấn đề nhãn A và cty B, vấn đề bạn longpt lăn tăn và suy nghĩ là liệu giá trị nhãn A có được định khách quan và đáng tin cậy hay không? do A và B từ chỗ không quen biết với nhau trở thành cổ đông trong cùng một cty nên có khả năng sẽ thông đồng. Bạn có quyền nghi ngờ và với tất cả mọi tài sản góp vốn khác chứ không riêng gì tài sản này, ví dụ nhà xưởng, máy móc thiết bị,...cũng thuộc diện "bị nghi ngờ" khả năng thông đồng khi góp vốn và giá trị góp vốn của chúng đều không đảm bảo tính khách quan. Nhưng rõ ràng và thực tế, chúng vẫn hiện diện trên BS.

Vấn đề Microsoft góp vốn thương hiệu Microsoft vào rất nhiều cty khác thế nhưng tại sao PB vẫn tận 60? Ở đây có lẽ nên phân biệt góp quyền sử dụng và góp hoàn toàn thương hiệu này (khi góp hoàn toàn thì Microsoft không còn là Microsoft nữa). Và tổng giá trị mà Microsoft đi góp ở tất cả các nơi chiếm bao nhiêu % giá trị nhãn hiệu này? Do đó, cái phần vô hình được gọi là phát sinh từ nội bộ vẫn còn treo lơ lửng ngoài BS của Micro theo tỷ lệ % còn lại.

 
   
     
  longplt (19/08/2008 07:51 PM) Có ích: 3/3    
 
© SAGA - Tiếp tục thảo luận của tôi -  Một điều nữa: hoàn toàn nhất trí với ý kiến của bài viết

"cũng tác giả trên cho rằng nếu không công nhận giá trị thương hiệu khi góp vốn thì doanh nghiệp sẽ không có nguồn để hoàn trả vốn góp cho nhà đầu tư vì không được khấu hao tài sản này. Trên thực tế nguồn để doanh nghiệp hoàn trả vốn cho nhà đầu tư là luồng tiền tạo ra từ hoạt động của doanh nghiệp sau khi thanh toán cho các chủ nợ. Như vậy, yếu tố quyết định doanh nghiệp có đủ khả năng hoàn vốn cho nhà đầu tư hay không nằm ở hiệu quả hoạt động kinh doanh chứ không phải ở việc có khấu hao một tài sản hay không (có chăng là nếu nhãn hiệu được chấp nhận là tài sản thì khấu hao sẽ được coi là chi thí hợp lệ, theo đó doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được một khoản thuế). Nếu như quả thực thương hiệu có khả năng tạo ra lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp thì việc có ghi nhận nó trên bảng cân đối kế toán hay không (hoặc có trích khấu hao hay không) không hề ảnh hưởng đến khả năng tạo tiền của doanh nghiệp, hay khả năng hoàn vốn cho nhà đầu tư."

Việc PB của Microsoft vào khoảng 60 lần cũng nói lên vấn đề này. Không chỉ riêng thương hiệu mà còn các tài sản vô hình khác như: Human Capital, Strategic Alliances, v.v.. cũng không được ghi nhận vào giá trị của công ty khi góp vốn.
 
   
     
  longplt (19/08/2008 07:46 PM) Có ích: 3/3    
 
© SAGA - Ý kiến phân tích của tôi -  Bạn lannhusme nói tôi nhầm lẫn. Xin thưa không nhầm lẫn chút nào cả. Quan điểm của tôi rất rõ ràng:

1 - Góp vốn trực tiếp bằng Thương hiệu hay Bán thương hiệu cho chính doanh nghiệp rồi dùng tiền góp vốn chỉ là một mà thôi. Chẳng qua là đi lòng vòng, đường này đường khác.

Và tôi, rất tôn trọng quan điểm của nhà soạn thảo chuẩn mực, cũng như câu này của bài viết "Về bản chất, các thành viên sáng lập chính là chủ doanh nghiệp, vì vậy sự thống nhất giữa những thành viên này thực chất chính là sự thống nhất trong “nội bộ” doanh nghiệp. Do yếu tố không khách quan này mà việc xác định giá trị của thương hiệu dùng để góp vốn không bảo đảm tính “đáng tin cậy”, theo đó không thoả mãn điều kiện ghi nhận tài sản cố định vô hình."

2 - Trường hợp có bên thứ ba độc lập mua thương hiệu đó: ghi nhận TSVH, còn có đảm bảo tính tin cậy của giá trị TSVH hay không? thị trường sẽ quyết định và bên độc lập đó sẽ phải thực hiện impairment test hàng năm.

Câu này của bạn lannhu:
1. Nếu B mua nhãn A với giá 1 tỷ thì giá trị 1 tỷ này có đáng tin cậy đối với B? Và lúc này B có được ghi nhận nhãn A là TS trên BCTC của mình?
2. Giao dịch trên có bản chất giống với giao dịch góp vốn (A góp nhãn A vào B) hay không? Nếu giống thì xử lý hạch toán có tương tự hay không?

1 và 2 hoàn toàn giống nhau như ý 1 của tôi trong trường hợp A góp vốn vào B. Chỉ khác nhau như ý 2 khi có bên C độc lập mua thương hiệu.

3 - Chưa đồng ý với Gaubo rằng "Thương hiệu góp vốn đủ điều kiện về "tính tin cậy". Vì thực tế chưa có phương pháp nào thực sự khách quan và hiệu quả trong việc xác định giá trị thương hiệu. Đó cũng là lý do tại sao Chuẩn mực kế toán chưa chấp thuận. Việc chuẩn mực chưa hoàn hảo là điều đương nhiên. Và nhà soạn thảo phải chọn lựa giữa tính phù hợp và tính tin cậy, họ đành chọn cái thứ 2 mà thôi. Cũng vì điều này mà bản thân tôi cũng ít dùng BCTC một cách thuần tuý cho mục đích phân tích.

Một ví dụ mà tôi đang nghiên cứu:

- Jetstar mua 30% cổ phần của Pacific với giá ưu đãi. Và đổi tên thành Jetstar Pacific Airway. Vậy tại sao họ được mua ưu đãi? một phần cũng là do cái thương hiệu Jetstar sẽ được gắp với Pacific. Vậy về bản chất có khác gì đem thương hiệu đi góp vốn đâu! nhưng khoản này đâu có trên B/S của Jetstar Pacific. Mặc dù, tính ra có thể xác định giá mua thương hiệu (giá thị trường cổ phiếu - giá mua ưu đãi, giả định không có các điều khoản ưu đãi cho cả hai bên ngoài việc ghép thương hiệu trên).

 
   
     
  LanNhusme (19/08/2008 12:50 PM) Có ích: 3/3    
 
© SAGA - Phân biệt -  Tôi bổ sung thêm ý này để các bạn có thể suy luận thêm.

Tài sản tạo ra (phát sinh) từ nội bộ doanh nghiệp (interally generated): Đối với cty mới hoặc đang manh nha thành lập (ở đây là cty B) thì đã có khoản này chưa? Nhãn A là phát sinh từ quá trình họat động của A, chứ không phải B.

Và tôi xin nhắc lại lần nữa, những dẫn chứng 1, 2, 3 mà tôi đề cập là phục vụ cho cty nhận vốn góp (hiện nay chuẩn mực chưa quy định cụ thể), còn bản thân Coca, Micro, Mc là những anh có "nhãn hiệu phát sinh từ nội bộ" và cũng xin nhắc lại là những đối tượng được gọi là "tài sản phát sinh từ nội bộ" thì không nên đề cập đến nữa.

 
   
     
  gaubo (19/08/2008 11:56 AM) Có ích: 3/3    
 
© SAGA - Phải suy luận -  Tóm lại, các ví dụ và dẫn chứng của tôi nêu ra nhằm chứng minh một điều "doanh nghiệp nhận góp vốn B" có đủ điều kiện để ghi nhận nhãn A là TS, kể cả điều kiện "đáng tin cậy". Vì chuẩn mực kế toán không quy định cụ thể vấn đề này nên tất cả đều phải suy luận từ những quy định chung nhất.

Giá mà các nhà soạn thảo chuẩn mực kế toán được biết "chứng minh" này thì những Cocacola, Microsoft, McDonald không phải than trời vì tài sản bị understated.

 
   
     
  LanNhusme (19/08/2008 11:53 AM) Có ích: 2/2    
 
© SAGA - Lưu ý! -  Hai bạn longptgaubo lưu ý là mọi diễn giải chỉ phục vụ cho việc hạch toán nhãn hiệu A tại cty B (tức hạch toán tại bên nhận góp vốn liên doanh). Việc hạch toán nhãn hiệu này tại A (bên đi góp) theo quy định hiện nay đã phù hợp và không nên đề cập đến nữa để tránh nhầm lẫn!

Tôi càng diễn giải các bạn càng nhầm lẫn, vì vậy có lẽ tôi nên tóm gọn ở các câu hỏi như sau:

1. Nếu B mua nhãn A với giá 1 tỷ thì giá trị 1 tỷ này có đáng tin cậy đối với B? Và lúc này B có được ghi nhận nhãn A là TS trên BCTC của mình?

2. Giao dịch trên có bản chất giống với giao dịch góp vốn (A góp nhãn A vào B) hay không? Nếu giống thì xử lý hạch toán có tương tự hay không?

 
   
     
  longplt (19/08/2008 10:11 AM) Có ích: 2/2    
 
© SAGA - Tranh luận với bạn LanNhusme -  Tôi cũng chỉ xin phân tích một số điểm mâu thuẫn trong phần viết của bạn LanNhusme:

Chuẩn mực kế toán hiện nay chỉ quy định giá trị nhãn hiệu phát sinh từ nội bộ mới không được ghi nhận là TSVH, nếu nhãn hiệu này được mua từ bên ngoài thì được. Nhưng vấn đề "góp vốn" lại không có quy định, thế nên các doanh nghiệp vẫn bị "tắc" chỗ này.

Quy định, quy định và quy định. Không có quy định thì không thực hiện được?

Tuy nhiên, tôi đã dẫn chứng ra ở ví dụ 1 và 2 để cho thấy rằng "đáng tin cậy" ở đây không liên quan gì đến tính khách quan hay chủ quan của đối tượng tham gia định giá, tức các thành viên góp vốn vì nếu có vấn đề gì xảy ra thì họ hoàn toàn chịu trách nhiệm với giá trị được định này hoặc có thể thuê bên thứ ba định giá độc lập.

Common sense, muốn đảm bảo tính tin cậy, tất nhiên phải đảm bảo tính khách quan. Ví dụ: kiểm toán viên không đảm bảo tính độc lập, tất nhiên không đảm bảo độ tin cậy của báo cáo kiểm toán

Bạn có quyền nghi ngờ các thành viên góp vốn và bên thứ 3 thông đồng để nâng/hạ giá trị TS nhưng đấy chỉ là nghi ngờ của bạn. Bạn có quyền yêu cầu bên thứ 4, 5, 6,...định lại và khi đó, các thành viên góp vốn sẽ chịu trách nhiệm theo giá trị được định lại này nhưng không có nghĩa là yêu cầu B (doanh nghiệp nhận góp) không được ghi nhãn A là tài sản trên BCTC vì bạn nghi ngờ khả năng gian lận của các thành viên góp vốn.

Xin nhắc lại, hiện tại trên thế giới có rất nhiều phương pháp định giá thương hiệu khác nhau, tuy nhiên chưa có phương pháp nào được chấp thuận rộng rãi và đủ đảm bảo tính tin cậy (do có quá nhiều giả định chủ quan) để có thể thuyết phục Hội đồng soạn thảo chuẩn mực. Có thể một trong số chúng ta sáng tạo ra phương pháp mới chăng?

Do vậy, có bên thứ 10, 11, 12 đi chăng nữa cũng không thể hay chưa thể đưa ra định giá thuyết phục được.

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo thêm về định nghĩa "đáng tin cậy" theo IAS, họ cũng không đề cập gì đến vấn đề khách quan hay chủ quan của đối tượng tham gia định giá.

Framework có đề cập đấy ạ.

Kết luận: nếu làm được thì giá trị cocacola nằm trên B/S lâu rồi. Có gì khó khăn đâu. Lập một công ty mới, góp vốn bằng thương hiệu của cocacola là xong. Định giá khoảng 500 tỷ USD gì đó. Tất cả chỉ là thủ tục (tức là Hình thức) còn Bản chất ... Công ty cũ vẫn hoạt động bình thường, promotion girl vẫn miệt mài ngày đêm mà chẳng thèm quan tâm đến cocacola giờ thuộc công ty nào cả..

 
   
     
  LanNhusme (19/08/2008 09:02 AM) Có ích: 2/2    
 
© SAGA - Nhầm lẫn! -  @gaubo: Bạn có sự nhầm lẫn ở các vấn đề mà tôi đưa ra. Ba ví dụ trên tôi đưa ra là để chứng minh việc ghi nhận nhãn hiệu là TSCĐVH của bên nhận góp vốn là hoàn toàn có đủ cơ sở và điều kiện, khi bạn cho rằng vẫn thiếu điều kiện "đáng tin cậy" và tôi chứng minh nó vẫn "đủ tin cậy" với ba ví dụ đó.

Chuẩn mực kế toán hiện nay chỉ quy định giá trị nhãn hiệu phát sinh từ nội bộ mới không được ghi nhận là TSVH, nếu nhãn hiệu này được mua từ bên ngoài thì được. Nhưng vấn đề "góp vốn" lại không có quy định, thế nên các doanh nghiệp vẫn bị "tắc" chỗ này. Nhưng dựa trên bản chất của giao dịch thì nhãn hiệu nhận được từ việc góp vốn của bên thứ hai hay việc mua nó từ bên đó không có gì khác nhau cho nên vấn đề hạch toán cũng sẽ như nhau.

Như thế nào được gọi là "đáng tin cậy"? VAS không hề có định nghĩa do đó chúng ta cũng chỉ nhìn nhận cảm tính về cụm từ này mà thôi, cả tôi và bạn cũng thế. Tuy nhiên, tôi đã dẫn chứng ra ở ví dụ 1 và 2 để cho thấy rằng "đáng tin cậy" ở đây không liên quan gì đến tính khách quan hay chủ quan của đối tượng tham gia định giá, tức các thành viên góp vốn vì nếu có vấn đề gì xảy ra thì họ hoàn toàn chịu trách nhiệm với giá trị được định này hoặc có thể thuê bên thứ ba định giá độc lập.

Bạn có quyền nghi ngờ các thành viên góp vốn và bên thứ 3 thông đồng để nâng/hạ giá trị TS nhưng đấy chỉ là nghi ngờ của bạn. Bạn có quyền yêu cầu bên thứ 4, 5, 6,...định lại và khi đó, các thành viên góp vốn sẽ chịu trách nhiệm theo giá trị được định lại này nhưng không có nghĩa là yêu cầu B (doanh nghiệp nhận góp) không được ghi nhãn A là tài sản trên BCTC vì bạn nghi ngờ khả năng gian lận của các thành viên góp vốn.

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo thêm về định nghĩa "đáng tin cậy" theo IAS, họ cũng không đề cập gì đến vấn đề khách quan hay chủ quan của đối tượng tham gia định giá.

Tóm lại, các ví dụ và dẫn chứng của tôi nêu ra nhằm chứng minh một điều "doanh nghiệp nhận góp vốn B" có đủ điều kiện để ghi nhận nhãn A là TS, kể cả điều kiện "đáng tin cậy". Vì chuẩn mực kế toán không quy định cụ thể vấn đề này nên tất cả đều phải suy luận từ những quy định chung nhất.

 
   
     
  gaubo (19/08/2008 12:08 AM) Có ích: 3/3    
 
© SAGA - Phúc đáp bạn LanNhusme, -  Trước hết, tôi xin khẳng định lại (nếu bạn đọc bài viết kỹ thì cũng nhận ra ý này) rằng việc không cho phép ghi nhận giá trị tài sản vô hình nội sinh theo các chuẩn mực kế toán không phải là một giải pháp hoàn hảo, nhưng đó là quy định hiện hành. Ý kiến của bạn đưa ra để bảo vệ quan điểm rằng thương hiệu A cần được ghi nhận trên BCTC thực ra đã được người ta đưa ra vài chục năm nay rồi, nhưng hiện vẫn chưa được chấp nhận bởi các nhà soạn thảo chuẩn mực.

Chúng ta cần phân biệt cái gì hợp lý về lý thuyết (ví dụ như việc ghi nhận giá trị thương hiệu là hợp lý hơn) và những gì thuộc về quy định trong thực tế. Tôi xin nhắc lại các chuẩn mực kế toán hiện hành (cả Tây và Ta) đều không cho phép ghi nhận giá trị TSCĐ vô hình nội sinh trên BCTC (trừ các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá tại Việt Nam có quy định riêng). Nên nhớ việc lập BCTC phải được thực hiện theo các chuẩn mực kế toán chứ không phải theo những gì bạn cho là hợp lý. Bây giờ tôi sẽ có ý kiến về từng ý của bạn.

1. Nếu điều kiện "giá trị được xác định một các đáng tin cậy" thỏa mãn chỉ khi thế giới có phương pháp định giá đủ tin cậy thì khoản mục TSCĐVH là nhãn hiệu sẽ chưa bao giờ xuất hiện trên BCTC của bất kỳ công ty nào, kể cả khi mua.

Khoản mục nhãn hiện CÓ xuất hiện trên BCTC của nhiều công ty. Mặt khác, nhiều công ty có TSCĐVH là nhãn hiệu nhưng không được ghi nhận trên BCTC.

2. Nếu giá trị nhãn hiệu được định giá bởi các thành viên góp vốn được xem là không khách quan, ko đáng tin cậy thì giá trị của tất cả các tài sản góp vốn khác cũng tương tự.

Việc đánh giá xem giá trị tài sản có được xác định một cách đáng tin cậy hay không đòi hỏi phải có những xét đoán nghề nghiệp, và không thể có một tiêu chuẩn tuyệt đối chính xác. Tuy nhiên, cá nhân tôi cho rằng việc HĐQT của doanh nghiệp xác định giá trị TSCĐ vô hình của chính doanh nghiệp đó là không bảo đảm khách quan và tin cậy. Bạn hoàn toàn có quyền cho rằng việc xác định đó là tin cậy theo quan điểm của bạn. Nhưng thực tế là các nhà soạn thảo chuẩn mực không cho rằng như vậy. Mà ý kiến của họ thì quan trọng hơn ý kiến của mỗi chúng ta.

3. Thay vì nhận góp vốn nhãn hiệu A với giá 1 tỷ, cty B mua nhãn hiệu A với giá 1 tỷ thì giá trị này có đáng tin cậy đối với B? và B có được ghi nhận giá trị này là TSCĐVH trên BCTC của mình? Mình thấy hai giao dịch này về thủ tục pháp lý thì khác nhau nhưng về bản chất giao dịch thì không có gì khác nhau cả. Thay vì góp vốn trực tiếp, A có thể bán nhãn hiệu của mình với giá trên và sử dụng số tiền thu được này để góp vốn vào B.

Bạn nên nghiên cứu thêm nguyên tắc bản chất hơn hình thức (substance over form) trong Kế toán. Khi xác định việc hạch toán kế toán người ta phải căn cứ vào bản chất của giao dịch, chứ không phải hình thức. Chính bạn cũng cho rằng hai giao dịch về bản chất là như nhau, thế thì làm sao lại không ghi nhận TS trong một trường hợp, và ghi nhận TS trong một trường hợp kia được.
 
   
     
  LanNhusme (18/08/2008 06:21 PM) Có ích: 2/2    
 
© SAGA - Tin cậy và khách quan! -  1. Nếu điều kiện "giá trị được xác định một các đáng tin cậy" thỏa mãn chỉ khi thế giới có phương pháp định giá đủ tin cậy thì khoản mục TSCĐVH là nhãn hiệu sẽ chưa bao giờ xuất hiện trên BCTC của bất kỳ công ty nào, kể cả khi mua.

2. Nếu giá trị nhãn hiệu được định giá bởi các thành viên góp vốn được xem là không khách quan, ko đáng tin cậy thì giá trị của tất cả các tài sản góp vốn khác cũng tương tự.

3. Thay vì nhận góp vốn nhãn hiệu A với giá 1 tỷ, cty B mua nhãn hiệu A với giá 1 tỷ thì giá trị này có đáng tin cậy đối với B? và B có được ghi nhận giá trị này là TSCĐVH trên BCTC của mình? Mình thấy hai giao dịch này về thủ tục pháp lý thì khác nhau nhưng về bản chất giao dịch thì không có gì khác nhau cả. Thay vì góp vốn trực tiếp, A có thể bán nhãn hiệu của mình với giá trên và sử dụng số tiền thu được này để góp vốn vào B.

 
   
     
  longplt (18/08/2008 10:44 AM) Có ích: 4/4    
 
© SAGA - Tin cậy? -  "Xác định giá trị tin cậy của Thương hiệu" dựa trên công văn của Bộ ABC nào đó à?

"Vì vậy mình cho rằng "Thương hiệu A" sẽ được ghi nhận trên báo cáo tài chính của công ty cổ phần mới thành lập."

Vì thế câu này phải xem lại.

Nếu Bộ abc nào đó thành công trong việc xác định giá trị thương hiệu một cách đáng tin cậy thì họ xứng đáng đoạt giải Nobel về kinh tế, vì các nhà khoa học hàng đầu thế giới ngày đêm nghiên cứu mà vẫn chưa thực sự đưa ra phương pháp nào "đủ tin cậy" cả.

 
   
     
  gaubo (18/08/2008 09:54 AM) Có ích: 4/4    
 
© SAGA - Giải thích với bạn dinhvan -  Bạn dinhvan thân mến, tôi xin giải thích vấn đề bạn thắc mắc như sau:

1. Tôi không hiểu bạn tìm thấy chỗ nào trong bài viết nói rằng: "Theo chuẩn mực kế toán hiện hành: không coi thương hiệu là tài sản cố định vô hình do vậy không được ghi nhận vào bảng cân đối kế toán của bên góp vốn."

Nếu bạn đọc kỹ thì sẽ thấy tôi nói ngược lại: Chuẩn mực Kế toán CÓ coi thương hiệu là tài sản cố định vô hình.

2. Sở dĩ chuẩn mực Kế toán không cho phép ghi nhận thương hiệu A (một loại internally generated goodwill trong trường hợp này (thương hiệu A) chính là bởi cái tiêu chuẩn "giá trị tài sản được xác định một cách đáng tin cậy". Nếu bạn cho rằng trong ví dụ của tôi "thương hiệu A" có thể xác định được giá trị một cách đáng tin cậy thì cần gì phải viện dẫn Luật Doanh nghiệp.

Bản thân các chuẩn mực Kế toán cũng đã cho phép ghi nhận giá trị thương hiệu rồi. Tuy nhiên, tôi đồ rằng bạn khó mà thuyết phục được các nhà chuyên môn rằng giá trị thương hiệu A trong trường hợp này "được xác định một cách đáng tin cậy". Đó là cái gốc của vấn đề bạn ạ.

 
   
     
  LanNhusme (18/08/2008 09:32 AM) Có ích: 3/3    
 
© SAGA - Đồng ý với bạn dinhvan! -  Mình cũng có cùng ý như bạn dinhvan. Theo điều kiện để ghi nhận vào TSCĐVH thì bên nhận góp vốn hoàn toàn có đủ điều kiện để ghi nhận. Vấn đề nhãn hiệu đó không được ghi nhận là TSCĐVH ở bên đi góp, đó chỉ là trên góc độ kế toán để đảm bảo nguyên tác thận trọng thôi. Theo Luật dân sự 2005 thì quyền sở hữu trí tuệ được coi là tài sản và nhãn hiệu đấy vẫn đúng nghĩa là tài sản đi góp vốn của bên đi góp theo quy định của Luật DN và dân sự. Do đó, bên nhận góp hoàn toàn có đủ tư cách pháp lý cũng như tuân thủ chuẩn mực kế toán khi ghi nhận nhãn hiệu đó là TSCĐVH.
 
   
     
  dinhvan (17/08/2008 05:10 PM) Có ích: 2/2    
 
© SAGA - Nguyên tắc -  Mình thấy ví dụ về việc ghi nhận "thương hiệu A" của bạn chưa đúng. Theo chuẩn mực kế toán hiện hành: không coi thương hiệu là tài sản cố định vô hình do vậy không được ghi nhận vào bảng cân đối kế toán của bên góp vốn.

Trong luật doanh nghiệp (điều 4) có cho phép việc góp vốn bằng thương hiệu nên thương hiệu sẽ được ghi nhận làm tài sản cố định vô hình của bên nhận góp vốn. Vì thỏa mãn các điều kiện sau:

- Có thể xác định được giá trị một cách đáng tin cậy

- Có thể xác định được lợi ích kinh tế

- Có thể kiểm soát được

Vì vậy mình cho rằng "Thương hiệu A" sẽ được ghi nhận trên báo cáo tài chính của công ty cổ phần mới thành lập.

 
   
     
  gaubo (29/05/2008 10:47 PM) Có ích: 3/3    
 
© SAGA - Nửa tài sản phú ông còn rẻ -  Ấy ấy, cô nàng xinh đẹp này chỉ "kiết xác" về tài sản hữu hình thôi. Còn tài sản vô hình của cô ta thì đáng giá "ngàn vàng" đấy bác. Một nửa gia sản của phú ông mất rồi thì có thể kiếm lại được, chứ tài sản vô hình của cô gái tiêu dùng rồi là không cách gì kiếm được nữa đâu. Chia một nửa tài sản của phú ông có khi còn là rẻ nữa đấy.
 
   
     
  dangquangn (29/05/2008 06:59 PM) Có ích: 5/5    
 
© SAGA - Ngày xửa ngày xưa -  Chuyện xưa kể thế này:

Có cô nàng xinh đẹp nổi tiếng cả làng trên xóm dưới nhưng "kiết xác", đến tuổi cập kê, biết bao chàng trai nhòm ngó.

phuong.jpgcogai.jpgMột ngày giữa xuân nắng đẹp chan hòa, người ta thấy cô lên xe hoa về nhà phú ông giàu có nhất nhì trong vùng.

Đến buổi ve kêu đầu hạ, quan tri huyện đứng ra xử vụ ly hôn giữa nàng và phú ông nọ. Nàng được chia nửa gia sản kếch xù...

Liệu lúc xảy ra "ly hôn" giữa các đối tác trong liên doanh có góp vốn bằng thương hiệu, kết cục có tương tự không thưa bác gaubo?

 
   
     
 
Thảo luận (1) Thành viên ưa thích (4)
Trang trước   -  1/1  -   Trang sau
 
  zTranTriDung (19/08/2008 10:28 PM)  
 
Cám ơn các bạn gaubo, LanNhusme, và longplt với phần thảo luận mở rộng rất nhiều điểm hấp dẫn từ bài viết ban đầu của gaubo, mà xa hơn nữa là của bạn duongqtdncn. Nội dung chuyên môn tập trung, nên có thể không nhiều saganors cùng tham gia với các bạn, nhưng tôi tin nhiều bạn giống tôi, rất chăm chú và chờ đợi thảo luận mới của các bạn.
 
   
     
 
     Gửi thảo luận (Vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu. Nếu bạn chưa có bộ gõ Tiếng Việt, nhấn vào đây  
     
Tiêu đề 
   
 
( Tối đa1MB)
 
    (Để tham gia thảo luận, bạn cần đăng nhập)  
 
 
 
:: CÁC BÀI LIÊN QUAN
 
 
:: CÁC BÀI MỚI TRONG NGÀY
 
 
:: CÁC BÀI TIẾP THEO
Chất lượng trong nhượng quyền thương mại
Thương hiệu thượng lưu
Thước đo độ mạnh thương hiệu quốc gia
Những suy nghĩ về xây dựng thương hiệu thành công
Nhượng quyền thương mại - cơ hội cho một CEO
Thương hiệu doanh nghiệp - tài sản vô hình
Định giá Thương hiệu: Bồ Câu
 
 
 
 

Đăng ký:216481 (Vàng: 21 - Bạc:11)

Thảo luận:42710

Thuật ngữ tài chính-kinhdoanh:4963

Hỏi đáp kinh tế-kinh doanh:1494

Counter:
hit counter

Chăm sóc kỹ thuật bởi  NVS

TRANG CHỦ  |  GIỚI THIỆU  |  SITEMAP |  ĐỐI TÁC  |  ĐIỀU KHOẢN  |  Ý KIẾN  |  LIÊN HỆ/QUẢNG CÁO
Liên hệ quảng cáo:
CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ TRỰC TUYẾN IP (IP MEDIA JSC)
Email: info@saga.vn
 
Hà Nội: Tầng 26 Xuân Thủy Tower, 173 Xuân Thủy, Q Cầu Giấy – ĐT: (04) 39446509
TP HCM: Lầu 5, 293 Điện Biên Phủ, P. 15, Q. Bình Thạnh - ĐT:(08) 54042168
Giấy phép số 362/GP-BC do Cục Báo chí, Bộ Văn hoá-Thông tin cấp ngày 05/12/2006.
® Ghi rõ nguồn "saga.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.