Tìm kiếm  
 
Thị trường Tài chính quốc tế Công cụ Kĩ thuật tài chính Qui hoạch Cấu trúc vốn Kế toán-Kiểm toán Tổ chức tài chính
Tổng quan thị trường tài chính | Thị trường sơ cấp | Thị trường thứ cấp | Ngân hàng | Tổ chức tài chính phi ngân hàng
Bạn đang ở :  Trang chủ » Kiến thức KD » Tài chính » Thị trường » Tổng quan thị trường tài chính

Tin Tức Kinh Tế - Tài Chính

Saga-Việc Làm

THẾ GIỚI KINH DOANH

CUỘC SỐNG

THUẬT NGỮ

 

SỰ KIỆN - CHUYÊN ĐỀ

BÀI HAY

Vai trò điều tiết vĩ mô của nhà nước trong nền kinh tế toàn cầu hóa
Ảnh hưởng của thị trường chứng khoán Mỹ và thế giới đến Việt Nam
Cấu trúc thị trường tài chính
Một số thông tin thú vị về chỉ số EPS
Đằng sau giá cổ phiếu cao
Khái niệm Công ty đầu tư - Quỹ đầu tư
Cấu trúc của thị trường tài chính
Khó khăn khi phân tích một doanh nghiệp Việt Nam
3 kịch bản cho thị trường chứng khoán Việt Nam
Bàn về VN-Index
... Xem toàn bộ

BÀI BÌNH CHỌN

  Đằng sau giá cổ phiếu cao  
  3 kịch bản cho thị trường chứng khoán Việt Nam  
  Vàng, Dầu và Thị trường tài chính  
  Thuyết 'Thiên nga đen' và thị trường chứng khoán  
  Giải pháp phát triển trái phiếu Việt Nam  
  Một số thông tin thú vị về chỉ số EPS  
  Vai trò điều tiết vĩ mô của nhà nước trong nền kinh tế toàn cầu hóa  
  Từ khủng hoảng tài chính toàn cầu, ngẫm lại những tiên đoán trong trước tác của Mác  
  Những cạm bẫy chết người trên sàn vàng  
  Là người giỏi nhất, trước khi trở thành người lớn nhất?  
... Xem tất cả
 
ĐĂNG NHẬP
  Tên truy cập:
  Mật khẩu:

Quên mật khẩu

Tại sao Saga?

1 Bài viết vàng / 17 Bài viết bạc

  Liên hệ nóng:
YM: sagarina 
sagavietnam 
     Email: info@saga.vn

 

Người gửi: bigZezo  --   04/02/2010 03:26 PM    

Con đường tạo uy tín cho đồng Việt Nam

( Bình chọn: 2   --  Thảo luận: 0 --  Số lần đọc: 1393)

www.SAGA.vn - Trước diễn biến lạm phát vào cuối năm 2009, Chính phủ đã có những động thái mạnh như điều chỉnh tỷ giá, tăng lãi suất cơ bản lên 8%, chấm dứt chính sách hỗ trợ lãi suất 4%, yêu cầu bảy tập đoàn và tổng công ty nhà nước lớn bán ngoại tệ cho các ngân hàng...

ngân hàng.jpg
Xuất khẩu gạo của Việt Nam, 2005 - 2009 (nguồn: Hiệp hội Lương thực Việt Nam, tổng cục Thống kê)

Những chính sách này đều nhằm giữ niềm tin của người dân vào đồng nội tệ. Nhưng có vẻ như niềm tin chưa dễ quay trở lại. Hầu hết các ngân hàng thương mại đều gặp phải khó khăn trong việc huy động vốn ngay cả khi hầu hết các mức lãi suất đã được đẩy lên sát trần 10,5%; tỷ giá trên thị trường tự do vẫn được duy trì ở mức cao, khoảng 19.400 VND/USD; và giá vàng trong nước luôn cao hơn khá nhiều so với giá vàng thế giới.

Tạo uy tín cho đồng tiền Việt Nam là một nhiệm vụ không thể không làm để Việt Nam có thể duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và bền vững. Nhưng đây không phải là công việc ngày một ngày hai. Việt Nam cần phải có một chính sách nhất quán và dài hạn về vấn đề này càng sớm càng tốt.

Tác hại kinh tế của việc đồng bản tệ không được tín nhiệm

Trước hết, cần lưu ý rằng một quốc gia có thể phát triển mà không cần đồng bản tệ. Các nước thuộc khối Cộng đồng chung châu Âu đã từ bỏ đồng bản tệ của mình để cùng sử dụng một đồng tiền chung. Một số nước nhỏ như Panama, El Salvador, Ecuador, và gần đây là Zimbabwe đã từ bỏ đồng bản tệ. Họ sử dụng USD làm phương tiện thanh toán.

Nhưng một khi đồng bản tệ trở thành đồng tiền bắt buộc trong các giao dịch chính thức của một quốc gia thì việc nó không được tín nhiệm sẽ gây cản trở cho sự phát triển của quốc gia đó. Khi đồng bản tệ không được tín nhiệm, nó sẽ không đáp ứng được đồng thời cả ba chức năng: phương tiện thanh toán, dự trữ giá trị và đơn vị tính toán.

Một mặt, theo quy định của pháp luật, mọi người buộc phải sử dụng đồng bản tệ làm phương tiện thanh toán; mặt khác, xuất phát từ lợi ích kinh tế, người dân sẽ có xu hướng sử dụng các đồng tiền khác làm phương tiện dự trữ giá trị và đơn vị tính toán cho một phần tài sản hoặc một số các dự án kinh tế của mình.

Khi người dân sử dụng những đồng tiền khác thay vì đồng bản tệ để tiết kiệm, lãi suất huy động đồng bản tệ của các ngân hàng thương mại buộc phải duy trì ở mức cao, dẫn đến lãi suất huy động vốn của các doanh nghiệp cũng phải cao tương ứng.

Chẳng hạn, trong khi hoạt động kinh doanh trên toàn thế giới vẫn còn đang rất khó khăn, thì lãi suất cơ bản của Việt Nam được thiết lập ở mức 8%, so sánh với mức lãi suất “benchmark” của hai nước láng giềng Thái Lan là 1,25% và Malaysia là 2%. Với mức lãi suất cao như vậy, doanh nghiệp Việt Nam sẽ khó có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp của các quốc gia mà lãi suất huy động thấp.

Thiệt hại cũng đến với cả người dân khi phải sử dụng phương tiện khác như ngoại tệ mạnh hoặc vàng để tiết kiệm. Lãi suất của những phương tiện này đều thấp. Hơn nữa, người dân lại còn phải trả các chi phí chuyển đổi khi phải chuyển qua lại giữa VND với các phương tiện dự trữ giá trị đó.

usd_vnd.jpg

Việc đồng bản tệ không được tín nhiệm còn khiến các đơn vị kinh doanh dễ gặp phải sai lầm khi tính toán và xây dựng các kế hoạch kinh doanh. Khi đồng bản tệ không được sử dụng làm đơn vị tính toán, trong khi vẫn phải dùng làm phương tiện thanh toán, các chủ thể kinh tế sẽ liên tục phải điều chỉnh giá cả đầu vào và đầu ra mỗi khi tỷ giá biến động để đảm bảo mức lợi nhuận kỳ vọng theo kế hoạch của mình.

Thật khó có thể tránh được sai lầm khi ta phải làm công việc này liên tục, giống như người kỹ sư sẽ khó có thể tránh được sai lầm nếu như anh ta sử dụng cả hệ đơn vị mét và đơn vị inch cùng một lúc trong thiết kế.

Ngoài ra, đồng bản tệ không được tín nhiệm còn dẫn đến bất bình đẳng kinh tế. Khi đồng bản tệ luôn trong tình trạng mất giá, một bộ phận nhỏ dân chúng có khả năng tiếp cận nhanh chóng với các cơ hội đầu tư cũng như phương tiện dự trữ giá trị khác sẽ không những tránh được các tổn thất mà còn thu được lợi nhuận cao.

Trong khi đó, bộ phận dân chúng lớn hơn, như những người làm công ăn lương, công nhân và nông dân, sẽ có ít cơ hội hoặc luôn chậm chân hơn so với các bộ phận dân chúng kia trong việc chuyển đổi tài sản tích luỹ của mình. Kết quả là nhóm người này sẽ ngày càng trở nên nghèo đi do tài sản của họ bị mất giá nhiều hơn so với tài sản của nhóm người kia.

Nguyên nhân dẫn đến VND không được tín nhiệm

Một quá khứ xấu về lạm phát và tỷ giá có thể khiến cho đồng bản tệ của một quốc gia không được tín nhiệm ngay cả khi các chính sách hiện tại là tốt đẹp. VND rơi vào trường hợp như vậy.

Lạm phát luôn là một nỗi ám ảnh trong tâm trí của người Việt. Trong khi các nước tiêu biểu hay “tấm gương” trong khu vực (Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan) liên tục duy trì được CPI dưới hoặc xấp xỉ 5% trong một khoảng thời gian rất dài thì Việt Nam chỉ có duy nhất vài năm 1989 - 2003 duy trì được CPI dưới 5%. Trong những năm khác, CPI thường xuyên ở mức 8 - 9%. Quá khứ lạm phát trên hai con số, thậm chí ba con số, vẫn còn khá gần.

VND cũng mất giá nhiều so với các đồng tiền khác, thể hiện qua việc tỷ giá danh nghĩa VND/USD thường xuyên tăng. Nếu loại trừ giai đoạn đặc biệt 1980 - 1985, khi cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) nâng lãi suất USD lên rất cao để kiềm chế lạm phát dẫn đến USD tăng giá so với hầu hết các đồng tiền khác trên thế giới, và loại trừ giai đoạn khủng hoảng tiền tệ khu vực năm 1997 - 1998, thì bốn nước trong khu vực mà ta đang so sánh đã duy trì được tỷ giá đồng bản tệ so với USD tương đối ổn định trong suốt lịch sử phát triển của mình.

Đặc biệt, sau giai đoạn khủng hoảng tài chính, các quốc gia đó đã có những thay đổi căn bản về chính sách tiền tệ, giúp đồng bản tệ của họ không những ổn định trở lại mà còn có xu hướng tăng giá trong những năm sau đó.

Trong khi đó, tuy VND không bị mất giá nhiều khi xảy ra khủng hoảng tài chính khu vực, nhưng lại liên tục bị giảm giá kể từ năm 1996. Trong gian đoạn 1996 - 2008, VND bị mất giá khoảng 45% so với USD, trong khi các đồng tiền khác chỉ mất giá trong khoảng từ 18 - 27% so với USD bất chấp một số trong đó đã có lúc mất giá đến gần 100% trong giai đoạn khủng hoảng.

Làm thế nào để tạo uy tín cho VND?

Để tạo được uy tín cho VND, Chính phủ không có cách nào khác ngoài việc theo đuổi một số chính sách nhất quán sao cho lạm phát được kiềm chế ở mức thấp (theo kinh nghiệm thế giới nên dưới 5%) và đồng nội tệ liên tục tăng giá ở mức hợp lý so với các đồng tiền mạnh khác.

VND.jpg

Đây là một nhiệm vụ tưởng chừng khó nhưng hoàn toàn khả thi đối với một nước đang phát triển. Kinh nghiệm của các nước đi trước như Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, Úc, New Zealand… đã chứng tỏ điều này. Tuy nhiên, để theo đuổi mục tiêu này, có hai quan niệm sai lầm cần phải vượt qua.

Quan niệm sai lầm thứ nhất là về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát. Một số người vẫn quan niệm rằng để đạt tăng trưởng kinh tế cao thì chúng ta buộc phải chấp nhận lạm phát cao. Đây là một quan niệm sai lầm trên cả phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn.

Trên phương diện lý thuyết, sự phát triển không ngừng của công nghệ và năng suất lao động bù đắp được sự khan hiếm tài nguyên cũng như sự gia tăng của cầu, khiến cho giá cả của rất nhiều loại hàng hoá tiêu dùng giảm hoặc tăng không đáng kể theo thời gian.

Hay nói cách khác, một quốc gia có thể duy trì được tốc độ phát triển cao mà không phải đối mặt với sự tăng giá nếu nó liên tục cải thiện được năng suất lao động. Trong khi đó, nếu để lạm phát xảy ra, những tổn thất kinh tế như đã trình bày ở trên sẽ cản trở phát triển.

Trên phương diện thực tiễn, bốn nước trong khu vực trong minh hoạ của chúng ta đã duy trì được mức tăng trưởng rất cao trong thập kỷ 1980 và đầu thập kỷ 1990 với mức CPI thấp, chỉ xấp xỉ hoặc dưới 5%. Cụ thể, Hàn quốc đạt được tốc độ tăng trưởng GDP rất cao ở mức 8 - 11% trong giai đoạn 1986 - 1990; Đài Loan ở mức trung bình 8% trong thập kỷ 1980 và 7% trong nửa thập kỷ 1990; Thái Lan đạt khoảng 8 - 13% trong giai đoạn 1987 - 1995; và Malaysia tăng trưởng liên tục ở mức 9% trong giai đoạn 1988 - 1996.

Việt Nam chưa từng khi nào đạt được mức tăng trưởng ổn định cao như những nước “tấm gương” trong khu vực. Thời kỳ đạt tăng trưởng cao lâu nhất là giai đoạn 1992 - 1997 và gần đây nhất là giai đoạn 2005 - 2007, với mức tăng trên 8%. Trong giai đoạn tăng trưởng 1992 - 1997, đã có vài năm Việt Nam duy trì được CPI ở mức thấp. Nguyên do chính của hiện tượng này là trong nửa thập kỷ 1990, Việt Nam đã có những cải cách mạnh mẽ trong khu vực doanh nghiệp, dẫn đến năng suất lao động được cải thiện đáng kể.

Tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 2005 - 2007 gắn với CPI tăng ở mức cao từ 7,5 - 8,4%, và năm 2008 là 23%, thể hiện tăng trưởng trong giai đoạn này không phải do sự gia tăng năng suất lao động. Nó là kết quả của chính sách tín dụng dễ dãi.

Quan niệm sai lầm thứ hai là về ổn định tỷ giá. Tỷ giá ổn định, hay chính xác hơn, dao động trong một biên độ vừa phải là điều cần thiết cho việc xây dựng các kế hoạch kinh doanh. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng, đối với một nước đang phát triển, để duy trì tỷ giá ổn định thì Nhà nước cần phải can thiệp mạnh vào thị trường ngoại hối bao gồm quản lý nguồn cung, quản lý nguồn cầu và quản lý cả cách thức cung - cầu gặp nhau.

Thực ra điều này không cần thiết nếu không muốn nói là luôn tạo ra bất ổn tiềm tàng cho nền kinh tế. Trên nguyên tắc, một nước đang phát triển thường có tốc độ phát triển cao hơn các nước đã phát triển, chẳng hạn Mỹ. Nên nếu quốc gia đang phát triển này duy trì được CPI ở mức thấp thì giá trị đồng tiền của quốc gia này sẽ luôn có xu hướng tăng giá so với USD.

Nếu để cho dân chúng và các doanh nghiệp được tự do tham gia vào thị trường ngoại hối thì người dân nước đang phát triển sẽ có xu hướng tin tưởng vào đồng tiền của họ hơn là vào ngoại tệ. Họ chỉ giữ ngoại tệ khi thực sự cần, như nhập khẩu hàng hoá, đầu tư hoặc đi du lịch ra nước ngoài. Chính phủ chỉ cần thực hiện một số các chính sách kiểm soát dòng vốn ra vào quốc gia sao cho tránh được các cú sốc lớn về cung và cầu là đủ để tạo ra một tỷ giá có xu hướng ổn định.

Thực tế chứng minh điều này: các quốc gia trong khu vực sau khủng hoảng tài chính 1997 - 1998 đều chuyển sang chế độ tỷ giá thả nổi (trừ Malaysia chính thức thả nổi có kiểm soát từ năm 2006). Họ không những duy trì được tỷ giá ổn định mà còn tạo ra được đồng bản tệ có giá trị tăng dần so với USD.

Và để ngăn chặn đồng tiền của họ tăng giá quá nhanh so với USD, ngân hàng trung ương của các quốc gia này đã phải liên tục mua vào ngoại tệ. Kết quả là họ đều đã tích luỹ được một lượng ngoại tệ khổng lồ để đối phó với các bất ổn.

Duy trì lạm phát thấp, tỷ giá thả nổi (có kiểm soát) và quyết tâm phát triển kinh tế bằng cải thiện năng suất lao động là những điều kiện cần để tạo uy tín thực sự cho VND.

www.SAGA.vn - bigZezo | Theo SGTT

 
Bookmark and Share
  File gắn kèm:
 
  File download:
 
Điểm trung bình:           Tổng điểm: 10/ 2 lượt bình chọn
Bình chọn:
 

+ Thêm vào Bài viết ưa thích +   

+ Xóa bỏ việc nhận tin nhắn thông báo khi có thảo luận mới cho bài viết này +   
 
Bổ sung nội dung cho bài viết và tranh luận( 0)
 
Thảo luận (0) Thành viên ưa thích (1)
Trang trước   -  1/0  -   Trang sau
 
 
     Gửi thảo luận (Vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu. Nếu bạn chưa có bộ gõ Tiếng Việt, nhấn vào đây  
     
Tiêu đề 
   
 
( Tối đa1MB)
 
    (Để tham gia thảo luận, bạn cần đăng nhập)  
 
 
 
:: CÁC BÀI LIÊN QUAN
 
 
:: CÁC BÀI MỚI TRONG NGÀY
 
 
:: CÁC BÀI TIẾP THEO
Giữ nguyên lãi suất cơ bản 8%: Chỉ là tạm thời
Chiến tranh tiền tệ?
Vàng-bất động sản-chứng khoán: Bình thông nhau
Bài học từ hỗ trợ lãi suất
Sức mạnh của chính sách tiền tệ
9 sự kiện nổi bật của kinh tế Việt Nam 2009
"Điểm mặt" đối tượng tài chính có nguy cơ bong bóng
 
 
 
 

Đăng ký:124163 (Vàng: 15 - Bạc:11)

Thảo luận:36303

Thuật ngữ tài chính-kinhdoanh:1811

Hỏi đáp kinh tế-kinh doanh:1299

Counter:
hit counter

Chăm sóc kỹ thuật bởi  NVS

TRANG CHỦ  |  GIỚI THIỆU  |  SITEMAP |  ĐỐI TÁC  |  ĐIỀU KHOẢN  |  Ý KIẾN  |  LIÊN HỆ/QUẢNG CÁO
Liên hệ quảng cáo:
CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ TRỰC TUYẾN IP (IP MEDIA JSC)
Email: info@saga.vn
 
Hà Nội: Tâng 6, 25 Vũ Ngọc Phan, Đống Đa – ĐT: (04) 39446509
Đà Nẵng: Tầng 6, 76 Bạch Đằng – ĐT: (0511) 2466926
TP HCM: VietGlobe Office Building. Số 1 Đặng Dung, Quận I – ĐT: (08) 54041388
Giấy phép số 362/GP-BC do Cục Báo chí, Bộ Văn hoá-Thông tin cấp ngày 05/12/2006.
® Ghi rõ nguồn "saga.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.