Tìm kiếm  
 
Thị trường Tài chính quốc tế Công cụ Kĩ thuật tài chính Qui hoạch Cấu trúc vốn Kế toán-Kiểm toán Tổ chức tài chính
Tổng quan thị trường tài chính | Thị trường sơ cấp | Thị trường thứ cấp | Ngân hàng | Tổ chức tài chính phi ngân hàng
Bạn đang ở :  Trang chủ » Kiến thức KD » Tài chính » Thị trường » Tổ chức tài chính phi ngân hàng

Tin Tức Kinh Tế - Tài Chính

Saga-Việc Làm

THẾ GIỚI KINH DOANH

CUỘC SỐNG

THUẬT NGỮ

 

SỰ KIỆN - CHUYÊN ĐỀ

BÀI HAY

Huy động vốn cho doanh nghiệp mới thành lập và doanh nghiệp nhỏ từ quỹ đầu tư mạo hiểm
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng (P.2)
Câu chuyện về bảo hiểm nhân thọ (P1: lịch sử phát triển)
Bạn đã thực sự hiểu về bảo hiểm nhân thọ
Tìm hiểu về quỹ đầu tư mang tên HEDGE FUNDS - PI
Cơ chế giao dịch vàng ?
Xây dựng thể chế nhằm tăng cường khả năng tiếp cận tài chính vi mô
Bàn về tiêu chí thành lập công ty chứng khoán: Có nên giới hạn số lượng công ty chứng khoán trên TTCK?
Quy tắc thận trọng trong lựa chọn nhà quản lý quĩ đầu tư
... Xem toàn bộ

BÀI BÌNH CHỌN

  Tìm hiểu về quỹ đầu tư mang tên HEDGE FUNDS - PI  
  Xây dựng thể chế nhằm tăng cường khả năng tiếp cận tài chính vi mô  
  Quy tắc thận trọng trong lựa chọn nhà quản lý quĩ đầu tư  
  Huy động vốn cho doanh nghiệp mới thành lập và doanh nghiệp nhỏ từ quỹ đầu tư mạo hiểm  
  Bạn đã thực sự hiểu về bảo hiểm nhân thọ  
  Cơ chế giao dịch vàng ?  
  Câu chuyện về bảo hiểm nhân thọ (P1: lịch sử phát triển)  
  Bàn về tiêu chí thành lập công ty chứng khoán: Có nên giới hạn số lượng công ty chứng khoán trên TTCK?  
  Bảo hiểm vi mô: giải pháp cho người có thu nhập thấp  
  Các tổ chức tài chính phi ngân hàng (P.2)  
... Xem tất cả
 
ĐĂNG NHẬP
  Tên truy cập:
  Mật khẩu:

Quên mật khẩu

Tại sao Saga?

1 Bài viết vàng / 17 Bài viết bạc

  Liên hệ nóng:
YM: sagarina 
sagavietnam 
     Email: info@saga.vn

 

Người gửi: dothientuan  --   20/02/2008 12:45 AM    

Xây dựng thể chế nhằm tăng cường khả năng tiếp cận tài chính vi mô

( Bình chọn: 5   --  Thảo luận: 0 --  Số lần đọc: 3979)

Đặt vấn đề

Việc xây dựng và phát triển các giải pháp đồng bộ và hữu hiệu nhằm phát triển thị trường tài chính, hoàn thiện các hệ thống thể chế liên quan, kiểm soát những tác động có phần "méo mó" của thị trường luôn có những tác động tích cực trong việc đảm bảo hoặc tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn lực tài chính của các doanh nghiệp, hộ gia đình và các cá nhân, đặc biệt là người nghèo. Bài viết này nhằm thảo luận về các cơ sở, bao gồm cả việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông tin, cho việc hoàn thiện những khuôn khổ thể chế qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động của các chương trình tài chính vi mô, tăng cường khả năng tiếp cận các hệ thống tài chính chính thức của các hộ gia đình nghèo, các doanh nghiệp nhỏ.

Nội dung

Khả năng tiếp cận tốt hơn đến những dòng sữa tài chính sẽ giúp cho các hộ gia đình có thêm cơ hội thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói, đồng thời giải phóng những năng lực tiềm tàng của những đối tượng này mà lâu nay chưa tìm được cơ hội phát khởi. Khả năng tiếp cận các nguồn lực tài chính chính thức bị hạn chế là một trong những trở lực lớn mà từ lâu đã khiến cho sự đói nghèo vẫn luôn dai dẳng.

Nhiều nghiên cứu đã khẳng định: có quá ít ngân hàng quan tâm đến khả năng cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, các đối tượng nghèo, và nếu có cho vay thì thường ấn mức lãi suất quá cao. Tín dụng nông thôn, tín dụng chính sách trở thành miếng mối ngon cho “con cá mập” cho vay nặng lãi, và từ năm này qua năm khác, những người nông dân phải bán mùa màng để thanh toán các khoản lãi vay với lãi suất cao để có thể tiếp tục canh tác. Nếu mùa màng thất bát thì khả năng người nông dân có thể giải thoát bản thân và gia đình khỏi hàm những “con cá mập” cho vay nặng lãi là hầu như không có (Babriel, 2002).

559243.jpgMặc dù các Chính phủ ở nhiều nước luôn có những chính sách mang tính hỗ trợ cho đối tượng này theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp, song dường như liều thuốc mà bấy lâu nay thường được dùng như các chính sách trợ cấp tỏ ra chưa đủ liều hoặc không mấy hiệu quả. Lý do có thể là tự bản thân các chính sách đó chưa có cơ sở khoa học tốt, chưa phù hợp với từng đối tượng, từng vùng, lại được áp dụng một cách cứng nhắc trong mọi hoàn cảnh. Bên cạnh đó nguyên nhân không nhỏ là do cách thức thực hiện, triển khai các chương trình, chính sách đó vào thực tiễn chưa thực sự phù hợp, hoặc do năng lực yếu kém của những người làm công tác thực thi, hoặc do tham nhũng đã chệch hướng các mục tiêu của chính sách.

Việc nhận được các lợi ích mang lại từ các chính sách trợ cấp của Chính phủ không phải ở việc tăng các phần quà tặng mà là hỗ trợ năng lực sản xuất, thực hiện các kế hoạch kinh doanh, đảm bảo phát huy khả năng nội sinh của các hộ nghèo. Ví như một chiếc xe không thể tự nổ máy, để có thể nổ được máy cần phải nhờ người đẩy nhằm tạo đà cho máy nổ, song khi máy đã nổ thì tài xế phải biết tự điều khiển chiếc xe, phải tự chạy vì mọi người không thể đẩy mãi chiếc xe cho anh ta đến đúng về đích.

Nhiều người có những ý tưởng kinh doanh, trong số đó có những ý tưởng kinh doanh tốt bên cạnh những ý tưởng tồi, điều này không thể chắc chắn được chừng nào những ý tưởng đó vẫn chưa triển khai cụ thể và có một quá trình hoạt động, song điều chắc chắc là nếu không thể tiếp cận các nguồn tài chính thì những ý tưởng này không thể triển khai, hoặc triển khai ở mức độ hạn chế, và thiếu vốn thì có nhiều khả năng dẫn một ý tưởng tốt đến chỗ thất bại. Một người có ý tưởng tốt được tài trợ vốn không những mang lại lợi ích cho chính người này như tạo thu nhập, cải thiện đời sống, duy trì nền tảng sản xuất… mà còn mang lại những lợi ích kinh tế - xã hội lớn hơn.

Những dự án được triển khai có thể tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho nhiều người, giải quyết cả những vấn đề xã hội ở địa phương như cờ bạc, hút chích, mại dâm… góp phần đảm bảo ổn định và tăng trưởng kinh tế. Một điều quan trọng khác là những dự án trên sẽ tạo ra hiệu ứng lan truyền. Một mô hình hay, những kinh nghiệm quý sẽ được học tập và nhân rộng ở nhiều địa phương. Và chính cả ngân hàng cũng đảm bảo hoàn vốn khi đã tài trợ cho những dự án tốt.

Có nhiều yếu tố hạn chế khả năng tiếp cận các nguồn lực tài chính chính thức của các hộ nghèo, cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Những yếu tố cơ bản thường được đề cập là:

i. rủi ro cao vượt khả kiểm soát;

ii. thiếu tài sản thế chấp;

iii. chi phí giao dịch cao bao gồm cả chi phí thông tin, chi phí cơ hội và chi phí quản lý.

Đây là những rào cản chính đối với các hợp đồng tín dụng và các giao dịch tài chính nhỏ. Chính571988.jpg sách tín dụng của các tổ chức tài chính chính thức thường được xây dựng hướng vào những khách hàng mục tiêu là các doanh nghiệp Nhà nước - thành phần được cho là có sự hỗ trợ phía sau của Nhà nước, các doanh nghiệp lớn, các đối tượng khách hàng là cá nhân có thu nhập cao. Với khả năng tiếp cận rất hạn chế khu vực tài chính chính thức thông thường, các hộ gia đình nghèo, các cá nhân và cả các SMEs đều phải dựa vào những hình thức rất đa dạng của các thoả thuận tài chính phi chính thức hoặc bán chính thức. Họ cũng sử dụng hàng loạt cách tiếp cận phi tài chính để đảm bảo những dịch vụ cần thiết mà hệ thống tài chính chính thức không cung cấp được cho họ.

Tài chính phi chính thức song song tồn tại với hệ thống tài chính chính thức chừng nào mà tài chính chính thức vẫn chưa thể đảm trách hoàn toàn và có hiệu quả vai trò của mình. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), qui mô tài chính phi chính thức có quan hệ ngược chiều với độ sâu tài chính chính thức (World Bank, 2001). Những hộ gia đình nghèo và các SMEs không có tài sản thế chấp để đảm bảo khoản vay thường không thể tiếp cận nguồn tài chính chính thức, khi ở đó các quy chế cho vay hoặc do Chính phủ điều tiết hoặc do các tổ chức tài chính chính thức quy định với các điều khoản thế chấp hết sức ngặt nghèo.

Vì mục tiêu lợi nhuận bền vững và đảm bảo an toàn vốn, các tổ chức này không thể bất chấp mọi rủi ro để rơi và tình trạng nợ nần dây dưa, trong khi đó còn nhiều thị trường béo bở khác, ở đó có thông tin rõ ràng, rủi ro có thể kiểm soát tốt hơn mà chúng còn chưa tận dụng khai thác. Quá trình hội nhập cũng đặt các tổ chức tài chính chính thức phải hoạt động hiệu quả hơn, an toàn hơn; các tỷ lệ đảm bảo an toàn mà NHTW đặt ra như tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ nợ xấu… mà các tổ chức này cần tuân thủ cũng đã gián tiếp tạo khoảng cách xa hơn để các đối tượng nghèo có thể tiếp cận các nguồn tài chính chính thức nếu như không có những điều chỉnh thích hợp các chính sách tín dụng theo hướng dễ tiếp cận hơn đáp ứng yêu cầu cạnh tranh cao khi hội nhập.

Với những lợi thế tương đối của mình, như khả năng tiếp cận và nắm bắt thông tin cũng như phương thức tiếp cận và giải quyết vấn đề, tài chính phi chính thức sẽ thay thế tài chính chính thức ở một vài mảng thị trường, là những con hẻm nhỏ nơi mà hệ thống tài chính chính thức không thể dẫn vòi rồng chữa cháy của mình vào được, hoặc tốt hơn thì cũng không thể phát huy tác dụng tích cực. Tài chính phi chính thức thường không phải chịu các ràng buộc pháp lý, các tiêu chuẩn an toàn vốn, bảo hiểm tiền gửi, dự trữ bắt buộc… mặc dù hoạt động của chúng tự bản thân phải có các quy tắc phòng tránh rủi ro. Điều này tạo lợi thế tương đối cho tài chính phi chính thức và vì vậy vai trò của chúng không phải đã mất đi khi thị trường tài chính ngày càng phát triển, mà vẫn luôn tồn tại ở đó những khe hở để chúng hoạt động và hoạt động tốt.

Mặc dù vậy, tài chính phi chính thức cũng khó có thể thay thế hoàn hảo cho tài chính chính thức đang ngày càng hoàn thiện, phát huy dần những lợi thế vốn có của chúng như khả năng huy động vốn trên quy mô lớn; khả năng kiểm soát rủi ro với nhiều lý thuyết quản trị hiệu quả; việc áp dụng công nghệ mới giúp giảm đáng kể các chi phí giao dịch, phân tích và truy nhập thông tin… Song song với đó thì tài chính phi chính thức không hẳn đã cách ly hoàn toàn với rủi ro, và nếu điều này xảy ra thì với khả năng chống đỡ rủi ro kém, lại không được hỗ trợ chính thức từ thị trường và Chính phủ thì tất yếu dẫn đến sự đổ vỡ.

581791.jpgNhiều chương trình tổng kết gần đây đã hướng sự quan tâm của mình vào các hình thức tổ chức tài chính vi mô chuyên nghiệp. Những điểm nhấn đối với các hình thức tổ chức này là tỷ lệ nợ quá hạn thấp, đối tượng phục vụ rộng hơn như phụ nữ, sinh viên, người lao động, người dân tộc thiểu số. Mặc dù hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô này còn đó những hạn chế như giá trị khoản vay thấp thường không đủ tài trợ hoàn toàn dự án và các chi phí phụ trội, đôi khi còn mang tính cứng nhắc chưa được linh hoạt cho từng đối tượng cụ thể, những tiêu cực trong công tác thẩm định, xét duyệt tài trợ cũng dần xuất hiện đây đó. Đây là những nguy cơ dẫn đến rủi ro và nếu không được tăng cường kiểm tra, giám sát thì sự phá sản các mô hình này hoàn toàn là hiện thực hoặc yêu cầu phải được gây dựng lại từ đầu hoặc cơ cấu lại triệt để.

Tuy vậy, những lợi ích bước đầu mà các chương trình tài chính vi mô này mang lại là không thể phủ nhận, các hộ gia đình, các SMEs luôn được hưởng lợi, và tốc độ tăng trưởng dự kiến sẽ còn nhanh hơn. Vì vậy, điều quan trọng là phải định hướng các nguồn lực vào những nơi có tác dụng xã hội và hiệu quả kinh tế lớn nhất, những nơi có khả năng tạo ra hiệu ứng dây chuyền tích cực như giải quyết việc làm cho nhiều đối tượng, cải thiện đời sống kinh tế địa phương, tạo ra hoặc ứng dụng các mô hình sản xuất có năng suất và chất lượng cao cần được nhân điển hình…

Vẫn phải khẳng định rằng các chương trình tài chính vi mô này chưa thành công trong việc trực tiếp vươn đến đối tượng khách hàng là hộ gia đình nghèo nhất. Và công bằng mà nói thì không phải bằng mọi giá mà các chương trình tài chính vi mô phải có trách nhiệm hướng đến đối tượng này, mặc dù hoạt động của các tổ chức này luôn nhận sự trợ cấp từ Chính phủ và nhiều tổ chức khác. Bài học từ các chương trình tín dụng bao cấp trước đây vẫn còn nguyên giá trị cho chương trình tài chính vi mô. Chẳng hạn một sự bao cấp về giá vốn thiếu cơ sở sẽ dẫn đến quan hệ vay mượn lòng vòng, tính kém hiệu quả do lãng phí vốn, các chi phí cơ hội cao, những nguy cơ lạm phát cho nền kinh tế…

Để các chương trình tài chính vi mô phát huy hiệu quả hơn điều cần tiếp tục làm là hoàn thiện phương pháp tiếp cận và xử lý thông tin tốt hơn nữa. Cần phải gạt bỏ những trở lực mang tính xã hội như các thông tin trung thực về uy tín, về nhân thân… đôi khi không thể hoặc không được quyền tiếp cận, nay chúng phải được thừa nhận là nguồn thông tin chính thức cho các điều tra về cho vay. Việc cần thiết phải thu thập, xử lý và sử dụng những nguồn thông tin về tiểu sử tín dụng và các thông tin phi chính thức khác liên quan đến đối tượng vay vốn là một hoạt động đang phát triển rất nhanh trong cả khu vực công và tư (World Bank, 2001).

Điều tất nhiên, muốn được tài trợ vốn thì cần phải công khai thông tin về mình một cách trung thực và thừa nhận tính hợp pháp của các hoạt động điều tra thông tin cho mục đích vay. Song vẫn phải quản lý với việc điều tra những thông tin vượt ngoài yêu cầu, hay cho các mục đích thương mại nếu không được sự chấp thuận của đối tượng có liên quan. Mục đích của thẩm định vốn vay là thẩm tra uy tín, sự tín nhiệm, lòng tin mà người đi vay tạo dựng được ở người cho vay chính vì vậy người đi vay phải hy sinh những lợi ích mang tính riêng tư. Ngày nay các mô hình xếp hạng tín dụng đã giúp ích cho các ngân hàng rất nhiều trong việc định lượng các thông tin về độ tín nhiệm của khách hàng vay, trong đó có những thông tin có khả năng mang lại tác dụng xấu đứng ở khía cạnh xã hội đối với người đi vay.

Ở một số nước, việc phân biệt đối xử tín dụng theo một số tiêu chí nhất định có thể là bất hợpcapnotions-art.jpg pháp, và trong những giới hạn sử dụng thông tin nhằm đảm bảo tính bảo mật cần thiết có thể dẫn đến sự độc quyền. Chẳng hạn, ở Mỹ 90% thông tin tín dụng về khu vực doanh nghiệp nhỏ do hãng Dun & Bradstreet cung cấp (World Bank, 2001). Sự tập trung thẩm quyền cung cấp thông tin tín dụng không thể mang lại một hiệu quả cao xét ở tính hiệu quả kinh tế lẫn tính bảo mật. Sự độc quyền luôn tạo ra chi phí cho nền kinh tế, còn tính bảo mật thông tin cao hay thấp rõ ràng không phụ thuộc vào một hay hai hoặc ba tổ chức độc quyền cung cấp thông tin, vấn đề là cơ chế sử dụng thông tin.

Trong khi nhu cầu thông tin trong nền kinh tế lớn, ngành công nghiệp cung cấp thông tin trở thành một miếng bánh ngon cho nhiều doanh nghiệp muốn khai thác. Nhưng độc quyền đã đặt miếng bánh trong lồng bàn cùng với một vài doanh nghiệp duy nhất thì là một điều không công bằng. Ngân hàng hay các tổ chức sử dụng thông tin tín dụng phải mua thông tin, còn chúng sử dụng vào mục đích gì thì rõ ràng là không có gì rõ ràng. Thông tin đó có thể được dùng vào mục đích thương mại, được bán lại cho các đối tượng không có khả năng tiếp cận thông tin từ tổ chức cung cấp thông tin và được lan truyền cho các mục đích xấu ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín cá nhân, uy tín nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, tài chính…

Luật pháp ở nhiều nước đã không thừa nhận khả năng chia sẻ các thông tin đầy đủ trong tiểu sử đi vay, mà chỉ là những thông tin về việc không trả được nợ. Ai cũng biết rằng chỉ có bấy nhiêu thông tin thì rõ ràng không đủ cơ sở để ngân hàng quyết định cho vay, và như vậy đã hạn chế khả năng tiếp cận các nguồn tài chính. Bảng 1. trình bày tác động của mức độ sẵn có về thông tin tín dụng đến việc sử dụng mô hình tính điểm tín dụng âm cân đối với nhiều tỉ lệ vỡ nợ khác nhau:

  Tỷ lệ người vay được vốn (%) Tỷ lệ giảm đi trong số người vay được vốn trong mô hình chỉ tính giá trị âm
Tỷ lệ vỡ nợ mục tiêu (%) Mô hình đầy đủ Mô hình chỉ xét giá trị âm
3

4

5

6

7

74,8

83,2

88,9

93,1

95,5

39,8

73,7

84,6

90,8

95,0

46,8

11,4

4,8

2,5

0,5

Chú thích: Mô hình đầy đủ dự báo uy tín vay vốn bằng cách sử dụng cả thông tin tích cực và tiêu cực về tiểu sử tín dụng của người vay vốn; chất lượng tín dụng lấy làm ngưỡng được điều chỉnh để đạt được tỷ lệ vỡ nợ mục tiêu. Mô hình chỉ lấy thông tin tiêu cực cũng thực hiện tương tự nhưng bỏ qua tất cả các thông tin tích cực.

Nguồn: Tính toán từ Barron và Staten (2001) dựa vào một mẫu lớn tiểu sử tín dụng từ công ty cung cấp thông tin tín dụng Experian của Mỹ; (dẫn theo World Bank, 2001)

Một kiến nghị từ WB là những quốc gia có luật lệ khắt khe về các thông tin riêng tư cần cân nhắc khả năng nới lỏng các điều khoản cung cấp thông tin về người đi vay với người cho vay, những người mà người đi vay đang trông chờ để được vay vốn.

Sự thừa nhận điều này cũng là cách mà các tổ chức tài chính chính thức đang hướng đến như các Ngân hàng Thương mại (NHTM). Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ rỏ, tăng cường khả năng tiếp cận các thông tin tín dụng có thể làm tăng mức độ sẵn có của các khoản vay và giảm bớt chi phí cho các trung gian tài chính. Nghĩa là, giải quyết được mâu thuẫn giữa nhu cầu vay vốn cao trong nền kinh tế trong khi vốn ngân hàng vẫn dồi dào, không thể giải ngân. Các nghiên cứu cũng khảo sát thực tế số liệu của 43 nước và nhận thấy, khối lượng tín dụng từ khu vực tài chính chính thức cao hơn đáng kể ở những quốc gia có sự thừa nhận và mức độ chia sẽ thông tin tín dụng rộng rãi hơn (Jappelli và Pagano, 1999).

Có thể lý giải cho điều này rằng, thông tin tốt hơn sẽ giúp các ngân hàng không phải tiêu tốn quá nhiều chi phí cho thu thập và xử lý thông tin. Điều này cho phép ngân hàng định mức lãi suất có lợi hơn cho những khách hàng có uy tín cao hơn. Các thông tin vay vốn hôm nay sẽ được lưu trữ không chỉ ở chính ngân hàng cho vay hôm nay mà trong cả hệ thống ngân hàng, và những thông tin này có thể được truy nhập bất cứ lúc nào cần. Khả năng này sẽ làm hạn chế hiện tượng sử dụng vốn sai mục đích, sự dây dưa nợ. Những khách hàng từng vay vốn và đã có nợ xấu thì khả năng được xét cho vay tiếp là rất thấp, trong khi đó đối với những khách hàng sử dụng vốn vay hiệu quả, tình hình trả nợ tốt thì cơ hội tiếp cận vốn trong tương lai rất cao và nhiều khi còn nhận được những ưu đãi khác từ ngân hàng như chính sách lãi suất thấp, trong khi thời hạn vay dài hơn, số tiền vay nhiều hơn… Tựu chung có nghĩa là, tăng cường khả năng tiếp cận thông tin sẽ tạo ra một cơ chế tự kiểm soát vốn vay từ chính người đi vay, và đôi khi cơ chế này lại tỏ ra hiệu quả hơn khi được chính ngân hàng cho vay thực hiện. Tất nhiên, không phải vì thế mà các ngân hàng được quyền buông lỏng các điều khoản kiểm tra giám sát tình hình sử dụng vốn vay.

Kết luận

Điều chắc chắn có thể khẳng định rằng, xây dựng các thiết chế tài chính vi mô vững mạnh có ý nghĩa rất quan trọng nhằm đảm bảo tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn lực tài chính chính thức, góp phần vào công cuộc xoá đói, giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng và tạo ra sự công bằng xã hội. Đã có nhiều nghiên cứu kinh tế lượng nhằm đánh giá tỉ suất lợi tức xã hội của các chương trình tài chính vi mô có trợ cấp. Các khoản trợ cấp càng phát huy tác dụng khi chúng hướng vào những nơi mang lại hiệu quả xã hội lớn; song theo khuyến cáo của WB, điều cần tránh là sa lầy vào các cấu trúc xã hội rất dễ đổ vỡ. Tài chính phi chính thức vẫn còn đó vai trò quan trọng nhưng cũng không thể tạo ra một sự thay thế hoàn hảo cho tài chính chính thức. Điều quan trọng là cần phải biết phát huy những phát kiến mà tài chính phi chính thức đã gợi ra, từ đó cần xây dựng các thể chế tiếp cận và chia sẽ thông tin hữu hiệu theo cách mà tài chính vi mô đã làm và đặt nó trong vòng kiểm soát chọn lọc.

Tăng cường cơ sở hạ tầng thông tin có những tác dụng rất lớn trong việc cải thiện khả năng tiếp cận tài chính chính thức của những hộ gia đình nghèo, những người đi vay nhỏ như các SMEs. Chừng nào chúng ta còn quan tâm đến tín dụng vi mô, thì chừng đó việc chú trọng cải thiện cơ sở hạ tầng thông tin còn mang lại nhiều lợi ích lớn lao (WB, 2002). Các Chính phủ cần hoàn thiện các chương trình tài chính vi mô, trong đó bao gồm cả việc tăng cường xây dựng và củng cố các mô hình tổ chức, phương pháp quản lý và các vấn đề về kỹ thuật vận hành cũng như cả các khuôn khổ giám sát và điều tiết thận trọng.

Tài liệu tham khảo:

World Bank. 2001. Finance for Growth: Policy Choices in a Volatile World. Policy Research Report. New York: Oxford University Press.

World Bank. 2001. “Capacity Building for Economic Communication.” Internal Report. Communications Department. Romania Country Office. World Bank, Bucharest.

World Bank. 2001. World Devolepment Report 2000/2001: Attacking Poverty. New York: Oxford University Press.

Gabriel Kirkpatrick, “Rural Credit in North Carolina,” <http://www.cuna.org/data/cu/research/irc/archive4_1.html.>

Jappelli, Tullio, and Marco Pagano. 1999. “Information Sharing, Lending and Defaults: Cross-Country Evidence.” Working Paper 22, Centre for Studies in Economics and Finance, University of Salerno, May.

Barron, John M., and Michael Staten. 2001. “The Value of Comprehensive Credit Reports: Lessons from U.S. Experience.” Forthcoming in Margaret j. Miller, ed., Credit Reporting Systems and the International Economy. Cambridge, Mass.: MIT Press.

Ngân hàng Thế giới. 2001. Tài chính cho tăng trưởng: lựa chọn chính sách trong một thế giới đầy biến động. NXB. Văn hoá – Thông tin. Hà Nội.

Ngân hàng Thế giới. 2002. Xây dựng Thể chế hỗ trợ Thị trường. NXB. Chính trị Quốc gia. Hà Nội.

Đỗ Thiên Anh Tuấn © SAGA, www.saga.vn

 
Bookmark and Share
  File gắn kèm:
 
  File download:
 
Điểm trung bình:           Tổng điểm: 24/ 5 lượt bình chọn
Bình chọn:
 

+ Thêm vào Bài viết ưa thích +   

+ Xóa bỏ việc nhận tin nhắn thông báo khi có thảo luận mới cho bài viết này +   
 
Bổ sung nội dung cho bài viết và tranh luận( 0)
 
Thảo luận (0) Thành viên ưa thích (4)
Trang trước   -  1/0  -   Trang sau
 
 
     Gửi thảo luận (Vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu. Nếu bạn chưa có bộ gõ Tiếng Việt, nhấn vào đây  
     
Tiêu đề 
   
 
( Tối đa1MB)
 
    (Để tham gia thảo luận, bạn cần đăng nhập)  
 
 
 
:: CÁC BÀI LIÊN QUAN
 
 
:: CÁC BÀI MỚI TRONG NGÀY
 
 
:: CÁC BÀI TIẾP THEO
Quy tắc thận trọng trong lựa chọn nhà quản lý quĩ đầu tư
Huy động vốn cho doanh nghiệp mới thành lập và doanh nghiệp nhỏ từ quỹ đầu tư mạo hiểm
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng (P.2)
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng
 
 
 
 

Đăng ký:216481 (Vàng: 21 - Bạc:11)

Thảo luận:42710

Thuật ngữ tài chính-kinhdoanh:4963

Hỏi đáp kinh tế-kinh doanh:1494

Counter:
hit counter

Chăm sóc kỹ thuật bởi  NVS

TRANG CHỦ  |  GIỚI THIỆU  |  SITEMAP |  ĐỐI TÁC  |  ĐIỀU KHOẢN  |  Ý KIẾN  |  LIÊN HỆ/QUẢNG CÁO
Liên hệ quảng cáo:
CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ TRỰC TUYẾN IP (IP MEDIA JSC)
Email: info@saga.vn
 
Hà Nội: Tầng 26 Xuân Thủy Tower, 173 Xuân Thủy, Q Cầu Giấy – ĐT: (04) 39446509
TP HCM: Lầu 5, 293 Điện Biên Phủ, P. 15, Q. Bình Thạnh - ĐT:(08) 54042168
Giấy phép số 362/GP-BC do Cục Báo chí, Bộ Văn hoá-Thông tin cấp ngày 05/12/2006.
® Ghi rõ nguồn "saga.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.