Từ năm 2006, chúng ta đã thấy các cơ quan truyền thông đại chúng nói về việc kinh doanh rau sạch theo hướng chuyên nghiệp hóa, mở rộng vùng canh tác (Báo Tiền Phong, 17/10/2006).
Thực tế "rau sạch"
Ví dụ như niềm hy vọng vào năm 2008, Hà Nội sẽ có 80% diện tích sản xuất rau an toàn, theo định hướng của UBND Hà Nội. Để làm việc này, những công việc cần làm có thể thấy ngay là:
-
Quy hoạch, xây dựng những vùng rau sạch;
- Có quy trình quản lý một cách hệ thống, chỉ đạo sản xuất;
- Xây dựng hệ thống tiêu thụ-chế biến-phân phối;
- Thiết lập hệ thống trung tâm phân tích kiểm định chất lượng rau.
Như vậy, rau an toàn là hàng hóa thương phẩm có chứng nhận rau sạch hẳn hoi. Chứng nhận an toàn là cho cả một hệ thống từ vùng sản xuất tiêu chuẩn, cơ sở sơ chế đảm bảo điều kiện làm việc và hệ thống phân phối trung thực. Ước mong của Hà Nội cũng khiêm tốn thôi, là tới 2008 thì sẽ kiểm soát được chất lượng theo tiêu chuẩn cho 100% sản phẩm rau được tuyên bố là an toàn khi đưa ra thị trường; trước khi tới các hộ gia đình.
Ước tính như của Hà Nội thì chỉ khoảng 100 héc-ta hiện nay là vùng sản xuất rau sạch. Ngành kinh doanh này hiển nhiên còn nhiều tiềm năng, vì hiện tại mới chỉ đáp ứng chưa tới 10% nhu cầu tiêu dùng rau của các hộ gia đình Hà Nội.
Ở lân cận Hà Nội thì sao? Báo chí Bắc Ninh (tỉnh nằm sát Hà Nội, có thành phố Bắc Ninh được xem là đô thị vệ tinh gần và phát triển nhất của Hà Nội) cũng đã nhắc tới xây dựng thương hiệu cho rau an toàn từ tháng 3/2006. Đó là ông Nguyễn Đức Ngọc ở thôn Niềm Xá, phường Kinh Bắc. Nhưng ông phải sử dụng đất của mình và thuê thêm ruộng của hơn 30 hộ nông dân khác thì mới có được 6.800 mét vuông đất màu đưa vào gieo trồng các loại rau an toàn, rau sạch mang thương hiệu "Ánh Dương." Thực tế, đây cũng là diện tích rất bé, chưa tới 1 héc-ta. Một số người cũng bắt đầu thử mô hình, nhưng là người đi tiên phong và mạnh mẽ, diện tích của ông còn hạn chế thì xem ra để có những diện tích canh tác lớn xung quanh Hà Nội quả là một thách thức.
Tình hình ở TP.HCM cũng không khác biệt bao nhiêu. Rau ở TP.HCM phần nhiều được cung cấp từ Đà Lạt, là nơi có khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp với việc trồng trọt. Ở Đà Lạt cũng có nhiều công ty kinh doanh rau, hoa quả. Nhưng sản lượng có thể gọi là sạch cũng khá hạn chế, bởi lẽ ngay diện tích trồng cũng đã hạn chế. Trồng rau an toàn theo quy chuẩn cao cấp thì cũng cần đầu tư không ít.
Như thông tin của Liên minh các Hợp tác xã và Doanh nghiệp ngoài quốc doanh Đà Lạt thì cơ sở tương đối có tiếng như HTX Xuân Hương, tại Phường 9, Đà Lạt, được xem là cung ứng lượng rau lớn cho TPHCM thì có 21 hộ xã viên và 34 lao động chính, canh tác 5 ha, trung bình mỗi hộ xã viên canh tác 3-5 sào (sào: 1.000 m2). Vào đầu năm 2007, sản lượng trung bình rau sạch HTX này có thể cung cấp cho doanh nghiệp và siêu thị tại Sài Gòn chỉ dao động quanh 2 tấn rau xanh như xà lách, ớt, rau mùi… Giá bình quân 6.000-8.000 đồng/kg, có sản phẩm 10.000 đồng/kg, mỗi năm đạt 400-500 tấn, thu nhập 1,5-2 tỷ đồng. Nói thế nào thì đây cũng là những con số rất nhỏ cho thị trường hơn 10 triệu người dân ở TP.HCM.
Cái khó để phát triển thành một "công nghệ sản xuất rau an toàn"
Chúng ta ai cũng phải ăn rau. Ăn rau cũng thật nhiều lợi ích, nhưng rau phải sạch vì ai cũng lo sợ dư lượng thuốc trừ sâu, các hóa chất tiềm tàng có thể gây ung thư, mà trực tiếp nhất là nhiều vụ ngộ độc thức ăn tập thể khi sản xuất các suất ăn đại trà trở nên phổ biến.
Cái tốn kém đầu tư cho rau an toàn nằm ở việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất với nhà nylon, hệ thống tưới phun và kỹ thuật chăm sóc bón phân, phòng trừ sâu bệnh đều theo quy trình sản xuất rau an toàn, rau sạch. Tất cả đều cần đầu tư. Với một ngành nông nghiệp, chịu nhiều tác động của thời tiết và rủi ro khác, chúng ta không dám mơ tưởng tới sự bùng nổ của "nông nghiệp sạch."
Để sản xuất rau sạch, các nhà kinh doanh nông nghiệp phải nghiên cứu, tìm hiểu tình hình thực tế, và học công nghệ sản xuất từ các Viện nghiên cứu rau quả về các tiến bộ khoa học kỹ thuật. Chọn giống rau có năng suất tốt và chất lượng cao cũng phải học.
Việc duy trì niềm tin của thị trường và hệ thống phân phối cũng vất vả lắm -- cả một chiến lược. Riêng việc thực hiện nghiêm ngặt quy trình phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) cũng mất rất nhiều công sức.
Nhà kinh doanh còn phải làm công việc của các chuyên gia côn trùng học không chuyên để hiểu rõ chu kỳ sinh trưởng-phát triển của mỗi loại côn trùng để có phương pháp ngăn chặn, đẩy lùi các loại bọ có hại. Cái mà tiến sĩ Phan Kế Long của SAGA chúng ta trình bày ở Dak Lak về khai thác những thiên địch (côn trùng có lợi) cho cây nhằm tạo phương tiện bảo vệ mùa màng sinh học cũng được các nhà nông-kinh doanh nghiên cứu!! Thật là đáng ngạc nhiên.
Đầu tư cũng không hề ít tiền. Chỉ việc theo dõi lý lịch cây trồng cũng ngốn cơ man nào là công sức. Doanh thu trên một héc-ta đầy mồ hôi, công sức, rủi ro và suy tư đó là 70 triệu đồng/năm trở lên. Cao gấp 4 lần so với phương pháp trồng rau thông thường, tốt cho sức khỏe, nhưng so với các ngành kinh doanh khác thì thu nhập từ nông nghiệp thực sự không làm cho các nhà đầu tư mặn mà. Phần nào là vì một phần chi phí công sức đã chưa hạch toán đầy đủ theo phương thức hạch toán công nghiệp.
Sự ủng hộ "có điều kiện" của xã hội
Việc sản xuất rau đảm bảo an toàn rõ ràng rất có ích. Vì thế, xã hội (bao gồm rất nhiều hộ gia đình tiêu thụ rau) ủng hộ là chuyện dễ hiểu. Vấn đề là sự ủng hộ đó có điều kiện, và một phần quan trọng của điều kiện ấy là niềm tin. Chúng ta đồng ý là có Ánh Dương, có Xuân Hương và có rau sạch của những nhà sản xuất này. Nhưng cái nào ở cửa hàng là của họ, chúng ta không biết.
Ngày 26/8/2007, kênh thời sự VTV1 lại đưa tin về việc thương hiệu rau sạch Vân Nội, Đông Anh, Hà Nội bị ảnh hưởng nghiêm trọng do các "Cửa hàng rau sạch" lại bán rau không nguồn gốc, và tất nhiên cũng không lấy gì làm sạch. Với giả thiết hành vi tiêu dùng hợp lý, không ai bỏ tiền gấp 4 để mua một thứ mà không biết chắc có phải thứ mình cần tìm!
Vậy thì số phận ngành sản xuất rau an toàn có vẻ như đang nằm một phần quan trọng trong tay hệ thống phân phối. Và một lần nữa, chúng ta có thể thấy rằng, hệ thống phân phối tác động mạnh mẽ tới số phận cả một ngành kinh doanh như thế nào.
Kể cả một siêu thị lớn thì việc tin vào chất lượng cũng rất cần có điều kiện và cẩn trọng. Tôi từng biết siêu thị mua táo Trung Quốc, rồi ngồi dán mác "nhập khẩu từ Australia" khá "hớ hênh" chứ không lấy gì làm kín đáo cho lắm. Tất nhiên giá gấp 3-4 lần. Một hệ thống tiêu chuẩn chất lượng đang hiện diện trên thị trường và lựa chọn của các bà nội trợ vẫn dựa vào một yếu tố truyền thống: niềm tin được xây dựng trên mối quan hệ sẵn có và đã từ lâu với những người bán rau lẻ ngoài chợ.
Như vậy, chuyện của hệ thống phân phối và niềm tin tiêu dùng không thể đùa. Bây giờ những câu chuyện kiểu như quản lý của Wal-Mart sẽ xảy ra ngay ở tại Việt Nam, không còn xa xôi gì nữa.
======
Bài viết www.saga.vn hợp tác báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 29/8/2007
======