Bản gốc tiếng Anh của hai tác giả Bùi Quang Nam và Trần Trí Dũng đã được đăng trên Vietnam Investment Review tháng 10/2006. Bài viết được thực hiện vào thời điểm Việt Nam chưa gia nhập WTO nhưng những phân tích và quan điểm của hai tác giả vẫn có ý nghĩa tham khảo. Bản gốc tiếng Anh được đính kèm theo bài.
-----------------------------------------------------------------
Việt Nam có thể lỡ mất chuyến tàu thành viên của WTO trong năm nay (2006), nhưng việc hội nhập, không nghi ngờ gì nữa, sẽ xảy ra. Trong khi tổ chức toàn cầu này trực tiếp đối phó với vấn đề thương mại toàn cầu, và trước tiên là với những vấn đề thương mại tự do, mỗi người đều hiểu rằng những vấn đề chiến lược liên quan đến thị trường vốn và tiền tệ đương nhiên là một phần của cuộc chơi.
Trong ánh sáng của những vấn đề trên, bài phân tích này xem xét tình huống và cố gắng dự đoán vị thế của ngân hàng thương mại quốc doanh trong nền kinh tế Việt Nam hậu WTO.
Chính sách tự do kinh doanh chưa chứng tỏ được hiệu quả
Trong tuần đầu tiên của tháng 10, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định tiến hành cổ phần hóa hầu hết các Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN). Đây là một chuyển động rất có ý nghĩa nhằm điều chỉnh hệ thống các DNNN vốn đang tồn tại nhiều vấn đề. Đã gần hai thập kỷ trôi qua kể từ khi những DNNN bước vào giai đoạn tự cải tổ. Tuy vậy, có thể thấy hầu hết những điều chỉnh đã thực hiện đều tỏ ra không mấy hiệu quả, và vai trò của các doanh nghiệp này có xu hướng giảm sút trong xã hội.
Chúng ta có thể nhận thấy những phương án điều chỉnh theo hướng tự do hóa kinh doanh đã không chứng tỏ được hiệu quả ngay từ đầu, mà nguyên nhân chủ yếu bởi vì quán tính quá lớn của các DNNN khi họ vẫn cố gắng giữ lại vị trí hiện tại, thêm vào đó là tình trạng phân hóa rộng trong lợi ích cá thể. Quyết định thúc đẩy cổ phần hóa vừa được ký tạo sẽ tạo một sức ép tích cực lên khối doanh nghiệp này.
Theo quan điểm đó, không thể không chú ý tới khía cạnh tài chính, mà đại diện là các ngân hàng thương mại quốc doanh. Hiện tại, những ngân hàng này có quy mô lớn, và sở hữu một nguồn lực tài chính đáng kể. Tuy nhiên vẫn có những rủi ro tiềm tàng, những bất ổn và có thể đến một lúc nào đó. Trong bối cảnh đó, chính phủ đã quyết định phê chuẩn về nguyên tắc việc cổ phần hóa ba ngân hàng quốc doanh chủ chốt. Đây cũng là một điều tái khẳng định con đường trong tương lai gần của tiến trình đổi mới.
Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tỉ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam tương đối an toàn. Cộng đồng tài chính đang quan tâm đến những con số vì WB và IMF thường trích dẫn rằng tỉ lệ nợ quá hạn của các ngân hàng ở mức 2 con số. Thêm vào đó, trừ Vietcombank, hệ số bảo toàn vốn (Capital Adequacy Ratio – CAR) của ba ngân hàng thương mại quốc doanh lớn ở dưới mức chuẩn quốc tế là 8%.
Bảng 1. Hệ số của các ngân hàng thương mại quốc doanh, 2005
|
Ngân hàng
|
Nợ xấu/Nợ quá hạn
|
Hệ só bảo toàn vốn
|
|
|
|
VAS
|
IAS
|
|
NH Đầu tư Phát triển VN
|
9%
|
6.86%
|
3.36%
|
|
NH Kỹ thương
|
5-6%
|
6%*
|
n.a
|
|
NH NN&PTNT
|
5-6%
|
4%
|
n.a
|
|
NH Ngoại thương
|
3%
|
10%
|
8.5%
|
Có thể thấy khá rõ những tài sản vô hình mà ngân hàng quốc doanh được hưởng. Đầu tiên, đó là sự thiên vị của công chúng so với các ngân hàng “tư nhân”. Từ “quốc doanh” đối với đại bộ phận người Việt Nam vẫn đồng nghĩa với một thực thể lớn, vững chắc và an toàn. Đó là cái mà chúng ta gọi là niềm tin. Ngân hàng rất thích khái niệm này, vì nếu cảm giác tin tưởng này vẫn còn thống lĩnh, thì tiền gửi vẫn cứ chảy vào ngân hàng với chi phí tương đối thấp. Việc tiến hành các hoạt động PR và marketing tốn kém trở nên dễ dàng hơn nhiều. Rõ ràng là, việc tiết kiệm ở đây đồng nghĩa với lợi nhuận tốt hơn.
Thứ hai, qui mô của những ngân hàng này cho phép họ có lợi thế cạnh tranh so với những đối thủ tư nhân nhỏ hơn. Những đối thủ này là những ngân hàng đang cố gắng kiểm soát luồng tiền mặt ra vào, sử dụng tất cả những công cụ tài chính để cố chiếm một phần nhỏ của thị trường đang tăng trưởng. Hiện tượng này thường được gọi là tiết kiệm nhờ quy mô.
Thứ ba, tài sản hữu hình của ngân hàng quốc doanh có thể thấy được ở khắp mọi nơi, từ bất động sản cho tới hệ thống những cơ sở và chi nhánh toàn quốc. Ngân hàng Agribank đã có khoảng 2000 chi nhánh các cấp. Hệ thống chi nhánh này đã giúp cho Ngân hàng Agribank được Bảo hiểm xã hội ủy thác việc trả lương, đây là một hợp đồng kinh doanh tốt đến nỗi kể cả ngân hàng tư nhân có uy tín nhất là Sacombank cũng không có khả năng đạt được.
Và cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng, là khi cần một số quyền miễn trừ để thực hiện một số nhiệm vụ, thì những ngân hàng quốc doanh có nhiều khả năng được cấp quyền miễn trừ này. Tháng 9/2006, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành quyết định cho phép NH Kỹ thương, NH Đầu tư & Phát triển và NH Ngoại thương vượt định mức cho vay không quá 15% vốn đối với một khoản nợ cho một pháp nhân. Điều này đã cho phép NH Kỹ thương, NH Đầu tư & Phát triển và NH Ngoại thương huy động tổng số 1,27 tỉ USD cho Tổng công ty Điện lực Việt Nam, với khoản đóng góp của từng ngân hàng lần lượt là 321,3 triệu, 252,3 triệu và 659,9 triệu USD.
Một cách tự nhiên, chúng ta đều hiểu rằng các ngân hàng quốc doanh rất khác so với một ngân hàng tư nhân trung bình. Do dó, khi vấn đề quy mô, khả năng chi trả, và độ an toàn trở nên không còn nhiều ý nghĩa, thì tính hợp lý trong hoạt động của những ngân hàng này thực sự là vấn đề cần xem xét. Chúng ta sẽ sớm thấy được sự hợp lý trong hoạt động ngân hàng là giải pháp duy nhất quyết định khả năng cạnh tranh của ngân hàng, và những hoạt động không hợp lý có thể sẽ phá hủy những giá trị đã có trước đó, nếu chúng ta có thể gọi là như vậy. Cơ chế thị trường đã làm cho những ngân hàng quốc doanh xử sự giống những ngân hàng tư nhân: cạnh tranh trong việc quản lý luồng tiền gửi, mở rộng mạng lưới, thu hút những nhân sự có năng lực, tiến hành các chiến dịch PR, mặc dù đó chưa phải là việc xây dựng hoạt động hợp lý.
Bảng 2. Thị phần của các ngân hàng thương mại, 2000-2004 (%)
|
|
2000
|
2001
|
2002
|
2003
|
2004
|
|
Thị phần huy động vốn
|
|
|
|
|
NH quốc doanh
|
77.0
|
80.1
|
79.3
|
78.1
|
75.2
|
|
NH Cổ phần
|
11.3
|
9.2
|
10.1
|
11.2
|
13.2
|
|
Chi nhánh NH nước ngoài
|
9.2
|
8.8
|
8.1
|
7.8
|
8.2
|
|
NH liên doanh
|
2.5
|
1.9
|
2.5
|
2.9
|
3.4
|
|
Tổngl
|
100
|
100
|
100
|
100
|
100
|
|
Thị phần cho vay vốn
|
|
|
|
|
NH quốc doanh
|
76.7
|
79.0
|
79.9
|
78.6
|
76.9
|
|
NH Cổ phần
|
9.2
|
9.3
|
9.5
|
10.8
|
11.6
|
|
Chi nhánh NH nước ngoài
|
11.3
|
9.5
|
7.7
|
7.7
|
8.3
|
|
NH liên doanh
|
2.8
|
2.2
|
2.9
|
2.9
|
3.2
|
|
Tổngl
|
100
|
100
|
100
|
100
|
100
|
Nguồn: Bản cáo bạch của NH Đầu tư & Phát triển 2005, và tác giả dự báo
Trong khi cơ chế thị trường thực sự đã đồng hóa toàn bộ các ngân hàng tư nhân theo nghĩa đưa ra những kinh nghiệm hoạt động tốt nhất để tăng độ cạnh tranh, thì đối với ngân hàng quốc doanh chưa thấy được tác động này một cách rõ ràng. Tất cả những thay đổi của NHQD chưa thể giải quyết ngay những vấn đề ăn sâu vào hoạt động của họ, như nợ xấu, nợ trực tiếp, quản trị rủi ro thấp và hoạt động chưa được quy chuẩn. Liệu những ngân hàng quốc doanh này có thể duy trì được vị trí của họ ở thời điểm hậu WTO hay không? Câu trả lời là “Rất khó”, đơn giản vì sẽ không có hai luật chơi riêng biệt cho khối tư nhân và quốc doanh, bất kể ở phạm vi trong nước hay quốc tế. Những qui tắc lạnh lùng của thị trường sẽ làm gia tăng việc hoạt động ngân hàng an toàn và hợp lý hơn, và nghiêm khắc trừng phạt tất cả những gì đi ngược lại.
Ngân hàng quốc doanh hiện tại vẫn được hưởng một số lợi thế, điều này sẽ không giúp cải thiện được tính cạnh tranh cho thành phần kinh tế này thời hậu WTO.
Nên bắt đầu từ đâu?
Những điểm nêu trên gợi ý cho chúng ta tìm kiếm những hiểu biết sâu sát hơn về hệ thống ngân hàng quốc doanh. Những ngân hàng quốc doanh lớn hiện tại chưa tham gia nhiều vào bức tranh hoạt động thị trường. Những ngân hàng tư nhân hiểu định đề này hơn ai hết. Do đó, họ đã bắt tay vào cuộc đua đường trường để nâng cao vị thế của mình trên thị trường tài chính. Vì xã hội coi “qui mô” thực sự là một giá trị, nên các ngân hàng tư nhân bắt đầu bằng việc mời những cổ đông mới tham gia vào cơ cấu vốn. Một số ngân hàng, như Sacombank hoặc gần đây nhất là ACB, đã tự tạo ra cơ hội cho mình bằng cách niêm yết trên thị trường chứng khoán. Sau đó, “điều gì đến sẽ đến”, các cổ đông định chế nước ngoài đã mang lại cho những ngân hàng này những kỹ năng quản trị, tầm nhìn và kỹ thuật. Những điều này hiện tại rõ ràng là yếu tố thành công chủ chốt đối với những ngân hàng tư nhân. Những yếu tố đó quan trọng không phải vì chúng tạo ra những biện pháp khắc phục tức thời cho ngành ngân hàng chưa phát triển của Việt Nam, mà vì chúng dần dần tạo ra một cơ sở thực sự cho hoạt động ngân hàng an toàn và hợp lý. Quan trọng hơn, mầm mống của các giá trị văn hóa trong việc giao dịch, đạo đức kinh doanh, niềm tin thị trường, và mở cửa với thay đổi đã được thấy rõ. Hiện tại, cuộc chiến hậu WTO sẽ làm cho một số ngân hàng tư nhân biến mất. Nhưng những ngân hàng sống sót qua trận cuồng phong đó sẽ thịnh vượng lên.
Văn hóa kinh doanh là một vấn đề mang tính đa chiều, không thể nào xây dựng trên những lợi thế giả tạo được. Dù có tưới bao nhiêu nước và đợi bao nhiêu thời gian thì một hạt giống gieo trên nền bê tông cũng sẽ chẳng bao giờ nảy mầm. Có lẽ, cách duy nhất để cải thiện hoạt động của những ngân hàng quốc doanh này là phải đẩy họ vào làn sóng cạnh tranh, trên một nền tảng cạnh tranh hoàn toàn tự do. Không có động thái này, cuộc đua huy động vốn dựa vào thứ vũ khí là lãi suất chỉ cho thấy một quan điểm nóng vội trong việc ra quyết định và trong hoạt động kinh doanh chứ không thể nào nâng cao được tính cạnh tranh. Chúng ta có thể hiểu ngay rằng, việc sử dụng vốn không phải bao giờ cũng tạo ra lợi nhuận.
Kết luận của chúng tôi chỉ đơn giản là, do những tồn tại trong hệ thống tài chính của chúng ta mà việc cổ phần hóa các ngân hàng quốc doanh có thể là khởi đầu của quá trình cải tổ của toàn bộ hệ thống ngân hàng. Nhưng điều này sẽ chỉ thực sự có ý nghĩa nếu các ngân hàng “sắp cổ phần hóa” tiếp thu được những giá trị kinh doanh mới hậu WTO, và đi tiên phong trong việc thiết lập một thứ văn hóa kinh doanh lành mạnh.
Bảng 3. Chỉ số tài chính 2005.
|
NH quốc doanh
|
ROE
|
ROA
|
|
NH Đầu tư & PT
|
7.90%
|
0.41%
|
|
NH Kỹ thương
|
12.74%
|
0.49%
|
|
NHNN&PTNT
|
11.86%
|
0.44%
|
|
NH Ngoại thương
|
14.9%
|
1.00%
|
|
Sacombank
|
20.58%
|
1.85%
|
|
ACB
|
23.03%
|
1.50%
|
|
Techcombank
|
20.45%
|
1.93%
|
Nguồn:
NHNN Việt Nam, Báo cáo thường niên
Chú thích:
ROE: Return on Equity – Suất sinh lợi trên vốn;
ROA: Return on Asset – Suất sinh lợi trên tài sản.
Bùi Quang Nam & Trần Trí Dũng