
Vấn đề
chất lượng đào tạo cấp đại học đang được xã hội tranh luận, nảy sinh từ một số vấn đề thực tế: giáo trình thiếu tính sáng tạo, quá nặng lý thuyết, sinh viên tốt nghiệp thiếu khả năng thích ứng với nhu cầu thực tế, thiếu khả năng giải quyết vấn đề một cách độc lập, mức độ khiếm dụng của sinh viên tốt nghiệp đại học còn quá cao... Tất cả những vấn đề trên cho thấy hiệu suất của chương trình đào tạo đại học còn thấp, đầu tư vào thế hệ rường cột của tương lai đất nước kém hiệu quả. Vấn đề ở đây có lẽ không phải là thầy kém, trò dốt hay không siêng năng mà ở chỗ định hướng mục tiêu đào tạo và từ đó giáo trình đào tạo không đi sát với nhu cầu thực tế của xã hội.
Nhu cầu thực tế của xã hội là gì? Thực trạng chung ở Việt Nam cũng như ở bất cứ nước nào là trong 10 người tốt nghiệp đại học, sau 5-10 năm làm việc, chỉ còn hai người còn làm công việc chuyên ngành (kỹ sư xây dựng còn làm thiết kế công trình, học kinh tế làm công tác giảng dạy, nghiên cứu kinh tế…), ba người còn làm trong ngành nhưng không còn làm chuyên môn (quản lý, giám sát công trình, tiếp thị, kinh doanh…), năm người còn lại không làm việc gì liên hệ với ngành mình học nữa. Như vậy, đào tạo với mục đích nhồi nhét kiến thức chuyên ngành tối đa trong bốn năm học là không thực tế và lãng phí vì 8/10 người tốt nghiệp đại học không cần phải đầu tư bốn năm đại học cho một số lượng kiến thức
chuyên ngành mà họ không cần. Trong khi đó họ lại không được chuẩn bị cơ bản để có khả năng ứng xử tốt với những vấn đề trong cuộc sống và nghề nghiệp cho 40 năm sự nghiệp làm việc của họ. Ngay cả với hai người còn làm chuyên môn, chắc chắn rằng hơn 50% kiến thức họ được học ở đại học sẽ không còn thực dụng với công việc họ đang làm.
Thực tế của cuộc sống là một chuỗi dài của những thách thức giải quyết vấn đề, trong đó khả

năng phân tích và đặt vấn đề đúng là phần lớn giá trị vấn đề. Thiếu khả năng phân tích và không biết cách đặt vấn đề chuẩn thì dù có đủ phương tiện và khả năng chuyên môn cũng không đem lại kết quả mong muốn. Phương tiện, khả năng chuyên môn để giải quyết vấn đề chỉ là phần giá trị phụ vì nếu không có thì cũng có thể đi mua, đi thuê. Nhưng không ai có thể hiểu vấn đề của mình hơn mình và đặt vấn đề đúng giùm mình. Sinh viên đại học đang bị bội thực với giáo trình chuyên ngành như người bị ép ăn một thứ quá nhiều, tiêu hóa không tốt, trở nên suy dinh dưỡng, ảnh hưởng đến tiềm năng phát triển lâu dài vì thiếu những món ăn kiến thức đa dạng. Vậy thì trách nhiệm của đại học (cấp 4 năm) với sinh viên (sản phẩm của đại học) và xã hội (người tiêu thụ) là gì?
Đại học phải nên là nơi đào tạo một tầng lớp tri thức (“những cây sậy biết suy nghĩ” như Pascal đã nói), có bề dày kiến thức tổng quát, khả năng phân tích, suy nghĩ sáng tạo hữu ích cho xã hội, cộng thêm một số kiến thức chuyên môn cơ bản đủ để họ có thể tập trung bằng cách tự học hoặc được đào tạo trong công việc hay ở cấp cao học, tiến sĩ. Nếu đây là mục tiêu chiến lược cho đào tạo đại học thì chương trình đào tạo phải nên như thế nào?
Trong thực tế văn hóa xã hội, ta coi trọng thi cử và bằng cấp - một thực tế khó có thể thay đổi trong một hay hai thế hệ - thì có lẽ yếu tố có tính chủ động, chi phối và quyết định cách học và cách dạy hiệu quả nhất là cách đặt đề thi. Nếu đề thi có trong tầm kiểm định thực tiễn những mục tiêu của đào tạo như đã nêu trên (yêu cầu của đầu ra) thì tự nhiên cách học của sinh viên và cách dạy của giảng viên (những yếu tố đầu vào) sẽ được điều chỉnh theo đó. Sửa đổi cách đặt đề thi có lẽ ít phức tạp và có thể triển khai nhanh hơn là đặt vấn đề sửa đổi một loạt các chính sách, quy chế đào tạo. Đề thi khuyến khích tư duy phân tích, sáng tạo nên được dùng để tuyển sinh vào đại học (để có ảnh hưởng trên giáo trình trung học) cũng như đề thi
tốt nghiệp. Thay vì đòi hỏi thí sinh phải giải một bài toán với một số giả thuyết có sẵn để đi đến một đáp số (khuyến khích cách học thuộc lòng một số bài giải có sẵn) thì nên đặt một vấn đề chung, đòi hỏi thí sinh phải tự đặt ra một số giả thuyết phù hợp và đề nghị giải pháp tối ưu dựa trên lý luận hợp lý để bảo vệ giải pháp đó (cách học đặt vấn đề, phân tích, lý luận và giải quyết theo điều kiện cụ thể).
Các đại học ở Mỹ được đánh giá là thành công. Mục tiêu của họ là đào tạo người có học, có khả năng linh động ứng xử được với những tình huống không dự đoán được khi ra đời, chứ không chỉ học để có bằng hoặc là chuyên gia sau khi tốt nghiệp. Trong khi lượng giờ học chuyên ngành của sinh viên tốt nghiệp đại học Việt Nam tương đương với chương trình cao học của Mỹ, giáo trình kỹ sư bốn năm ở đại học
Mỹ gồm khoảng 30-35 lớp học thì sinh viên chỉ bắt

buộc phải học khoảng 12-15 lớp chuyên ngành, số còn lại được chia đều cho các lớp khoa học tự nhiên và một số lớp do sinh viên tự chọn (electives) như ngôn ngữ, văn chương, triết, logic, truyền thông, hùng biện, kinh doanh, thể thao, âm nhạc, lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội, khảo cổ… Với mô hình đào tạo này, sinh viên khi ra trường có đủ kiến thức theo học chuyên sâu trong ngành của mình hay chuyển qua học các ngành khác sau đại học như cao học quản trị kinh doanh (MBA), tiến sĩ luật (JD) hay cả bác sĩ y khoa (MD) tùy theo năng khiếu, sở thích hay nhu cầu của hoàn cảnh vào thời điểm đó. Nền tảng giáo dục này dựa trên lý luận rằng cơ hội để cho thanh niên theo đuổi đam mê thích hợp với năng khiếu của mình là động lực của xã hội để mở rộng tiềm năng phát triển con người và đất nước. Thật ra tuổi 18 là tuổi tương đối sớm để đòi hỏi một người phải biết mình là ai, có năng khiếu gì, thích và hợp với ngành nghề gì hay biết nên học cái gì thực dụng trong một thế giới nhiều thay đổi như ngày hôm nay. Hầu hết các đại học Mỹ không đòi hỏi sinh viên phải quyết định ngành học trong hai năm đầu.
Song song với cách đặt đề thi, cách đánh giá người dạy cũng cần được xét lại để có ảnh hưởng tích cực đến cách dạy, tránh bệnh thành tích và khuynh hướng đào tạo suông theo kế hoạch. Bộ máy đại học nên khuyến khích vai trò hướng dẫn của giảng viên hơn là vai trò giảng dạy để sinh viên học tính tự lập và năng động trong công tác học tập. Giảng viên cũng cần có thời gian và được khuyến khích một cách cụ thể trong công tác
nghiên cứu và tư vấn để có cơ hội cập nhật kiến thức chuyên môn và phát triển khả năng đào tạo sát với nhu cầu thực tế xã hội.
Trần Sĩ Chương