|
Người gửi:
--
20/08/2008 11:50 AM
Nghiên cứu của SAGA trên EconPapers "The financial storms in Vietnam’s transition economy: A reasoning on the 1991-2008 period"
Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Nghiên cứu quốc tế của SAGA
(
Bình chọn:
--
:
--
Số lần đọc:
10352)
(© SAGA.vn) Nghiên cứu về biến động tài chính Việt Nam giai đoạn 1991-2008 công bố trên hệ thống EconPapers và Working Papers Series WP-CEB của ĐHTH Bruxelles. Sơ bộ dưới đây giới thiệu sơ lược về bài nghiên cứu 26 trang này. (WP-CEB N0. 08-023)
Tiến trình vận động của nền kinh tế ghi nhận các thời kỳ có nhiều xáo trộn như mốc đánh dấu khởi đầu của một giai đoạn phát triển mới. Các biến cố kinh tế tại Việt Nam trong những năm 1997-98 chịu ảnh hưởng lan truyền từ khủng hoảng tài chính-tiền tệ của khu vực Đông Á, với tư cách một thành viên của kinh tế khu vực. Thay đổi kinh tế của một thập kỷ sau, 2007-08, diễn ra cùng lúc với khủng hoảng tín dụng toàn cầu, bắt nguồn từ vấn nạn nợ dưới chuẩn nhà ở tại Hoa Kỳ và nhanh chóng phản ánh tiêu cực lên các hệ thống tài chính quốc tế, trong đó có Việt Nam. Biến động kinh tế mang tính tất yếu. Nhưng cần nắm vững bản chất và tiến trình vận động, loại hình, qui mô, độ sâu ảnh hưởng để phát hiện vấn đề cốt yếu, đúc kết bài học kinh nghiệm và tìm hướng đi hợp lý cho quãng đường phía trước.
Kinh tế Việt Nam bước vào năm 2007 với nhiều tín hiệu tích cực phát đi từ những tháng cuối năm 2006. Ngày 11/1/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO- sự kiện đánh dấu mốc hoàn thành hành trình dài 12 năm kể từ ngày nộp đơn xin gia nhập. TTCK Việt Nam (TTCKVN) bước sang tuổi thứ bảy cùng đà tăng nhanh chóng của chỉ số chứng khoán bắt đầu từ giữa 2006. Đầu năm 2007, VN-Index lần đầu được ghi nhận với 4 chữ số trong tháng 1/2007 và đạt mức cao nhất trong lịch sử 1.171 điểm ngày 12/3/2007. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam trong năm 2006 cũng cao nhất tính từ năm 1988: 10,2 tỷ USD- tăng gấp 2 lần so với một năm trước. Tăng trưởng GDP của năm 2006 đạt 8,17% mặc dù có giảm đi 0,26% so với năm 2005 những vẫn ở trên mức bình quân 7,51% của giai đoạn 2001-2005.
Tuy thế, mầm mống sốc nội sinh bắt đầu xuất hiện ngay từ tháng 2/2007 khi các chỉ số tăng trưởng thị trường vốn và tiền tệ không thực sự phản ánh bản chất cải thiện năng lực của nền kinh tế. Những dấu hiệu này ngày càng bộc lộ rõ trong những tháng tiếp theo, đặc biệt trên TTCK. Tổng mức vốn hóa của TTCK đạt tới qui mô 20%-30% GDP, chủ yếu do bùng phát bong bong giá tài sản tài chính. Theo thống kê của Sở giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh, tới tháng 4/2008, 87 công ty chứng khoán, 30 công ty quản lý quỹ, 298.000 tài khoản đầu tư cá nhân- trong đó có trên 7.000 của nhà đầu tư nước ngoài, tham gia các giao dịch tài sản tài chính tại Việt Nam. Trong khi đó, một loạt những nhân tố căn bản cần thiết được đảm bảo lại bị coi nhẹ, thậm chí bỏ qua. Các nhà đầu tư cá nhân tham gia TTCK với hiểu biết hạn chế. Truyền thông tài chính còn hạn chế cả về số lượng, trình độ xử lý, và đảm bảo công bằng thông tin. Chăm sóc quan hệ với nhà đầu tư trở thành điểm nóng chỉ khi giá cổ phiếu bước sang thời kỳ sụt giảm kéo dài và vẫn bị nhầm lẫn, xếp cùng nhóm với hoạt động PR, quảng cáo của doanh nghiệp. Các nguyên tắc quản trị và vấn đề xung đột lợi ích trong công ty đại chúng còn quá xa lạ. Nguồn lực huy động qua thị trường vốn được doanh nghiệp sử dụng tràn lan, kém hiệu quả vào các dự án mở rộng và lĩnh vực kinh doanh mới- nhiều nhất là bất động sản và tài chính-ngân hàng. Tăng trưởng nóng có dấu hiệu dựa vào "rent-seeking."
Sang 2008, kinh tế Việt Nam cùng lúc đối mặt với nhiều thách thức lớn. TTCK giảm sút đẩy lùi chỉ số chứng khoán giao dịch tại Tp. Hồ Chí Minh về mức thấp nhất kể từ tháng 3/2006: 366 điểm của phiên giao dịch ngày 20/6/2008. Lạm phát trong ba tháng đầu năm vượt qua 9% và tăng lên tới 15% vào tháng 5/2008 tác động trực tiếp tới đời sống của đông đảo dân cư. Hoạt động kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn khi giá đầu vào tăng cao, lãi suất vay vốn qua kênh ngân hàng ở mức trên 20%/năm. Cắt giảm chi phí, kể cả nhân lực, trở thành vấn đề phổ biến tại đơn vị kinh doanh. Bản thân các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng cũng gặp khó khăn trong thanh khoản, liên tiếp phải nâng lãi suất huy động tiền gửi, thậm chí, có lúc tới gần 20%/năm. Ngân hàng Nhà nước không dưới hai lần điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản, lên tới 14%/năm vào tháng Sáu. Biên độ giao dịch tỷ giá hối đoái được nới rộng ra 2%, đồng thời mức tỷ giá chính thức cũng được điều chỉnh tăng nhằm đối phó với áp lực gia tăng tỷ giá ngấp nghé 20.000 VND/USD trên thị trường. Thâm hụt thương mại sáu tháng đầu năm trên 14 tỷ USD.
Chính những biểu hiện đó là nguyên nhân trực tiếp làm xuất hiện nhiều lo ngại và cả ý kiến phân tích đề cập tới khả năng một kịch bản tương tự với khủng hoảng tài chính-tiền tệ châu Á 1997 lặp lại với Việt Nam trong tương lai gần. Tuy vậy, để trả lời câu hỏi liệu khủng hoảng có xảy ra hay không, và nếu có sẽ theo cách nào, cần có những quan sát cẩn trọng những yếu tố kinh tế vĩ mô có xét tới bối cảnh của khu vực và thế giới, cùng cấu trúc, nguyên lý vận hành vi mô của hệ thống kinh tế. Nỗ lực tập hợp dữ liệu nhằm so sánh các đặc trưng kinh tế của các giai đoạn 1991-92, 1997-98 và 2007-08 cho thấy có những khác biệt rõ ràng trong từng yếu tố kinh tế căn bản như tăng trưởng, lạm phát, chính sách tiền tệ, thị trường tài chính, dòng vốn nước ngoài giữa hai thời kỳ. Câu chuyện của Thái Lan và Đông Á năm 1997 ít có cơ hội xuất hiện ở Việt Nam. Những kết quả này cũng gợi mở hướng tiếp tục phát triển về mối quan hệ nhân quả giữa quyết sách vĩ mô và thực tế vận hành vi mô, vai trò của văn hóa và truyền thống kinh doanh trong các thời kỳ khó khăn kinh tế, tác động của truyền thông tới niềm tin của công chúng vào năng lực của hệ thống kinh tế và hiệu quả của công cụ chính sách...
Abstract:
This study focuses on those substantial changes that characterize the shift of Vietnam’s macroeconomic structures and evolution of micro-structural interaction over an important period of 1991-2008. The results show that these events are completely distinct in terms of (i) Economic nature; (ii) Scale and depth of changes; (iii) Start and end results; and, (iv) Requirement for macroeconomic decisions. The study rejected a suspicion of similarity between the contagion of the Asian financial crisis in 1997-98 and economic chaos in the first half of 2008 (starting from late 2007). The depth, economic settings of, and interconnection between macro choices and micro decisions have all grown up significantly, partly due to a much deeper level of integration of Vietnam into the world’s economy. On the one hand, this phenomenon gives rise to efficiency of macro level policies because the consideration of micro-structural factors within the framework has definitely become increasingly critical. On the other hand, this is a unique opportunity for the macroeconomic mechanism of Vietnam to improve vastly, given the context in which the national economy entered an ever-changing period under pressures of globalization and re-integration. The authors hope to also open up paths for further empirical verifications and to stress on the fact that macro policies will have, from now on, to be decided in line with changing micro-settings, which specify a market economy and decide the degree of success of any macroeconomic choices.
Tải toàn bộ tài liệu từ cơ sở dữ liệu của EconPapers và ULB-SBS Centre Emile Bernheim từ đường hyperlink dưới đây (download PDF):
[Download PDF file]
© www.saga.vn
|