* Hệ thống bảo vệ quyền SHTT: đã đầy đủ
Sở hữu trí tuệ (SHTT), theo nghĩa khái quát là sở hữu hợp pháp đối với các thành quả sáng tạo do lao động trí óc con người tạo ra (tài sản trí tuệ) trong hai lĩnh vực chính là SHCN và quyền tác giả. Tài sản trí tuệ cũng mang một số đặc điểm của các tài sản thông thường như có thể mua bán, trao đổi, tặng cho, thừa kế... nhưng có điểm khác biệt cơ bản với tài sản thông thường là ở tính chất vô hình.

Pháp luật của hầu hết các nước đều công nhận và bảo hộ
tài sản trí tuệ. Phù hợp với yêu cầu của quốc tế, các tài sản trí tuệ được Nhà nước ta công nhận và bảo hộ bao gồm: đối tượng của quyền tác giả và quyền liên quan (tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá); đối tượng của quyền SHCN (sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh) và giống cây trồng.
Bảo vệ quyền SHTT là việc chủ thể quyền SHTT hoặc cơ quan có thẩm quyền sử dụng các biện pháp cần thiết mà pháp luật cho phép để bảo đảm quyền SHTT được thực thi trên thực tế. Dưới góc độ chủ thể quyền, việc bảo vệ quyền SHTT sẽ bảo đảm việc xử lý, ngăn chặn và ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền; dưới góc độ xã hội, bảo vệ quyền SHTT có tác dụng kích thích, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh an toàn và lành mạnh; dưới góc độ quốc tế, bảo vệ quyền SHTT luôn là mối quan tâm to lớn không chỉ ở từng quốc gia mà ở cả bình diện quốc tế. Trong các điều ước quốc tế về SHTT được ký kết gần đây, ví dụ Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPS - WTO), các chuẩn mực tối thiểu về thực thi quyền SHTT đã đặt ra và đòi hỏi các quốc gia thành viên phải tuân theo.
Hoạt động bảo vệ quyền SHTT của mỗi quốc gia luôn dựa trên một số nền tảng cơ bản: hệ thống văn bản pháp luật; hệ thống cơ quan bảo vệ quyền và các biện pháp xử lý xâm phạm. Các yếu tố nêu trên có ý nghĩa quan trọng như nhau và việc vận hành suôn sẻ chúng là điều kiện tiên quyết để bảo đảm tính hiệu quả của hoạt động bảo vệ quyền SHTT.

Về hệ thống văn bản pháp luật: Hoạt động bảo vệ quyền SHTT ở nước ta được điều chỉnh bởi quy định của một số văn bản pháp luật như: Luật SHTT, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Hải quan, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và một số nghị định của Chính phủ hướng dẫn việc áp dụng các biện pháp để xử lý xâm phạm quyền. Tuỳ theo tính chất và mức độ của hành vi xâm phạm, chủ thể quyền SHTT có quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cần thiết để xử lý người có hành vi xâm phạm quyền: Toà án áp dụng các biện pháp dân sự hoặc các biện pháp hình sự; Thanh tra chuyên ngành (Khoa học và Công nghệ, Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Quản lý thị trường, Uỷ ban nhân dân, Công an và Hải quan: áp dụng các biện pháp hành chính; ngoài ra, cơ quan hải quan còn có thẩm quyền áp dụng các biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất, nhập khẩu xâm phạm SHTT tại biên giới.
Hệ thống bảo vệ
quyền SHTT của nước ta đã đầy đủ (hệ thống văn bản pháp luật và hệ thống cơ quan thực thi tương đối đồng bộ, có các chế tài phù hợp để xử lý xâm phạm). Tuy nhiên, thách thức lớn nhất đặt ra hiện nay đối với hệ thống bảo vệ quyền SHTT là đáp ứng yêu cầu về tính "hiệu quả" theo Hiệp định TRIPS, tức là các biện pháp và thủ tục xử lý xâm phạm phải kịp thời, đúng đắn và công bằng, không quá phức tạp bảo đảm ngăn chặn và ngăn ngừa được hành vi xâm phạm.