Tuần rồi tờ Asia Times có bài về Việt Nam với nhan đề: “Vietnam has second thoughts about WTO”. Second thought là “thinking again about a choice previously made” nên có thể dịch nôm na là “hối tiếc”, “ân hận” như trong câu “He had second thoughts about his purchase” - biết vậy khoan mua món đó đã.
Ấy là vì tác giả chủ quan suy diễn khi có tin đồn Việt Nam sẽ kiểm soát dòng vốn đầu tư gián tiếp. Kể ra cũng lạ, trước và sau khi Việt Nam vào WTO, dư luận trong và ngoài nước rất hăm hở, kỳ vọng vào sự “cất cánh” của nền kinh tế Việt Nam. Nay một phần kỳ vọng này chuyển vào thị trường chứng khoán, dư luận lại tỏ ra lo lắng cho sự phát triển đột biến này.
Trở lại bài báo của Asia Times, tác giả lý giải: “The market euphoria has local financial authorities in a funk”. Euphoria là sự hưng phấn còn to have someone in a funk là tình trạng ngược lại - a nervous depression. Hai lý do chính: “That’s partly because huge capital inflows have limited the central bank’s monetary-policy options to manage inflation and is also starting to put severe strains on its local-currency peg”. Câu này ý nói tiền đổ vào quá nhiều làm Ngân hàng Nhà nước không có nhiều lựa chọn khi muốn kiểm soát lạm phát bằng các chính sách tiền tệ và cũng làm cho việc gắn kết tiền đồng với các ngoại tệ hao tổn nguồn lực nhiều hơn.
Trong khi đó, tạp chí Time cũng có một bài dài về thị trường chứng khoán Việt Nam ở dạng phóng sự, theo chân những người chơi cổ phiếu chưa niêm yết. Để diễn tả sự sôi động của thị trường phi chính thức, tác giả viết: “Think of it as an amorphous eBay for speculators, an ad hoc gray market that sprouted spontaneously from the pent-up desire among the Vietnamese to cash in on the country's economic boom”. eBay là trang web chuyên về bán đấu giá lớn nhất thế giới - ở đây là một eBay vô định hình; pent-up desire là sự khao khát bị dồn nén. Nên chú ý đến cụm từ cash in on the country’s economic boom chính là kỳ vọng tận dụng cơ hội “kiếm chác” nói ở trên.
Nhận xét về tình hình này, một nhà kinh tế của Ngân hàng Thế giới ở Hà Nội phải thốt lên: “It’s the Wild West”. Nửa cuối thế kỷ thứ 19, dân Mỹ háo hức đổ về miền Tây để tìm cơ hội làm giàu, cụm từ “miền Tây hoang dã” từ đó được dùng để chỉ tình trạng tranh nhau làm giàu trong sự hỗn loạn, tranh tối tranh sáng.
Rủi ro ở thị trường này, như tác giả nhận xét, “not just because of the potential for fraud and theft”. Nó còn bởi “unlisted companies were under no obligation to disclose financial information, so investors had few ways to gauge company performance or whether an investment was sound”. Under no obligation to disclose là không có nghĩa vụ phải tiết lộ còn sound ở cuối câu là đúng đắn.
Buồn cười nhất là nhận xét của một chuyên gia đầu tư nước ngoài: “Basically, the way stocks are researched is ‘My grandfather’s uncle’s cousin’s wife works at this company and says it’s a good buy’”. Đừng cố gắng dịch cho chính xác cụm từ “my grandfather’s uncle’s cousin’s wife” làm gì cho mệt, chỉ cần hiểu đó là người bà con xa lắc xa lơ, bắn súng đại bác ba ngày chưa tới, bảo cổ phiếu ấy mua được đấy.
Thật ra ở thị trường chứng khoán nước ngoài, theo tường thuật của báo giới quốc tế, cũng bị tác động bởi những điều tưởng chừng phi lý. Tờ International Herald Tribune tiết lộ: “Greenspan, in retirement, upsets the markets” - và cho rằng đợt giảm giá chứng khoán khắp thế giới trong tuần qua là do phát biểu của Alan Greenspan, cựu Thống đốc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ. Trong các buổi trò chuyện thân mật (intimate conversations) với ông này mà các nhà đầu tư phải trả 150.000 đô la để tham dự, Greenspan chỉ cần thốt lên từ “suy thoái” là thị trường chao đảo ngay. “First on Monday and then again Thursday, Greenspan upset stock markets merely by uttering the word “recession” and saying that one might but probably would not occur by the end of this year”.
Có thể phần sau của câu trích trên làm chúng ta lúng túng: might occur nhưng probably would not occur là sao? Nguyên văn câu nói của Greenspan là “By the end of the year, there is a possibility, but not a probability, of the U.S. moving into a recession”. Cả hai từ possibility lẫn probability đều có nghĩa có khả năng xảy ra nhưng possibility là nói về cảm giác mơ hồ đến từ trực giác còn probability nói đến thông tin dựa vào dữ liệu chính xác.
Mọi người khá ngạc nhiên vì “For a man who had worked assiduously to keep markets calm while he ran the Fed, why was Greenspan now using an incendiary word-bomb?”. Work assiduously cũng như work hard; còn an incendiary word-bomb (quả bom lời nói kích động) ở đây chính là từ “recession” nói trên. Thật ra, như sự khác biệt giữa hai từ possibility và probability đã cho thấy, Greenspan chỉ “caution that the United States appeared to be at the end of a long expansion and that such times usually brought with them the seeds of a recession” - tức là sự phát triển kinh tế theo chu kỳ, hết thịnh đến suy mà thôi.