Tìm kiếm  
 
Kinh tế học Mô hình toán Thương mại Kinh tế lượng
Bạn đang ở :  Trang chủ » Kiến thức KD » Kinh tế học kinh doanh » Kinh tế học

Tin Tức Kinh Tế - Tài Chính

Saga-Việc Làm

THẾ GIỚI KINH DOANH

CUỘC SỐNG

THUẬT NGỮ

 

SỰ KIỆN - CHUYÊN ĐỀ

BÀI HAY

Lạm phát !!!
Lý thuyết bộ ba bất khả thi
Các xu thể phát triển kinh tế thế giới ngày nay
Chi phí cơ hội và chênh lệch cơ hội
Lỗ hổng của bàn tay vô hình
Các trường phái kinh tế học hiện đại
Kinh tế học vi mô: Sự phân phối thu nhập
Tăng trưởng kinh tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Giảm thâm hụt ngân sách để khôi phục sự ổn định vĩ mô
Thành công của Iphone - nhìn từ góc độ chiến lược "Đại dương xanh"
... Xem toàn bộ

BÀI BÌNH CHỌN

  Lạm phát !!!  
  Tranh luận qua các báo về Thế Giới Phẳng của Thomas L. Friedman  
  Chính phủ trong nền kinh tế thị trường  
  Ôi, kinh tế học  
  Lỗ hổng của bàn tay vô hình  
  Những câu chuyện về ô tô và lý thuyết kinh tế  
  Lý thuyết bộ ba bất khả thi  
  Bàn luận tiếp về ý kiến của Kubrik với cuốn sách Thế giới phẳng của Thomas L. Friedman  
  Tăng trưởng kinh tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam  
  Chiếc Lexus và cây lúa  
... Xem tất cả
 
ĐĂNG NHẬP
  Tên truy cập:
  Mật khẩu:

Quên mật khẩu

Tại sao Saga?

1 Bài viết vàng / 17 Bài viết bạc

  Liên hệ nóng:
YM: sagarina 
sagavietnam 
     Email: info@saga.vn

 

Người gửi: NguyenTriDat  --   22/03/2007 05:02 PM    

Những câu chuyện về ô tô và lý thuyết kinh tế

( Bình chọn: 9   --  Thảo luận: 3 --  Số lần đọc: 10022)

Câu chuyện về ô tô nổi tiếng nhất trong kinh tế học có lẽ là câu chuyện về thị trường ô tô cũ.

Năm 2001, giải Nobel kinh tế được trao cho Arkelof, với hạt nhân là luận văn kinh điển – “The market for lemons” – thị trường của những “quả chanh”. Ấy nhưng cái loại hàng hóa được nhắc đến trong luận văn này không phải là về chanh mà lại về ôtô. Nguyên do là ở chỗ, tiếng lóng của người Mỹ gọi những chiếc xe cũ nát thổ tả là quả chanh (lemon). Và cái thị trường mà luận văn nói đến thực chất là thị trường xe cũ.

Thông tin người bán và người mua có không giống nhau, người bán xe cũ nói chung biết rõ xe car1.jpgcủa mình tốt xấu ra sao, còn người mua xe thì không. Người ta gọi đó là tình trạng thông tin bất đối xứng.

Cho nên, nếu người mua xe biết giá trị chiếc xe cũ với những thông số như nhãn hiệu, năm sản xuất .v.v. như vậy có giá tối đa là, chẳng hạn 10.000$, tối thiểu là cho cũng không đắt, thì biết rằng giá trị cái xe mình định mua nằm giữa 0 và 10.000$.

Nếu không chắc được giá trị chiếc xe nằm ở khoảng nào, để giảm bớt rủi ro, người mua xe sẽ áng chừng nó ở mức trung bình, chẳng hạn 5.000$.

Nhưng nếu người mua nào cũng đánh giá như vậy, chỉ vì họ không nắm rõ thông tin, thì những người bán xe cũ sẽ có xu hướng loại khỏi thị trường những chiếc xe có giá trên 5.000$.

Còn lại trong thị trường chỉ là những xe có giá trị từ 5.000$ trở xuống. Nhưng người mua xe cuối cùng cũng sẽ nhận ra điều đó, và họ biết trong thị trường bây giờ chiếc xe tốt nhất, có giá trị tối đa chỉ là 5.000$.

Như vậy thì, vì vẫn không biết giá trị từng cái xe một, họ cứ trả giá trung bình là một nửa giá đó, nghĩa là 2.500$. Trước cảnh đó, những người có xe cũ giá trị cao hơn 2.500$ sẽ rút lui, để lại trong thị trường chỉ còn những chiếc xe trị giá từ 2.500$ trở xuống thôi.car2.jpg

Những "quả chanh" trong thị trường ô tô gây bất bình đến mức ở nhiều bang của Mỹ, như  bang California, có hẳn một luật là Lemon Law để bảo vệ quyền lợi của những người mua phải chiếc xe  quá "thổ tả".
 
 
Cứ tiếp tục như thế, sau cùng sẽ không còn thị trường bán xe cũ nữa vì chỉ còn những chiếc xe tệ hại nhất mà người ta gọi là những "quả chanh".

Câu chuyện trên của Arkelof cho thấy tình trạng bất đối xứng thông tin giữa người mua và người bán làm thị trường suy thoái thế nào. Nó đã mở ra cả một ngành mới trong kinh tế học gọi là kinh tế thông tin và áp dụng giải quyết được vô khối vấn đề thực tế.

Chẳng hạn bạn sẽ hiểu được tại sao một đôi giày không nhãn mác sẽ rẻ hơn rất nhiều lần một đôi giày “hàng hiệu” cho dù kiểu dáng có thể đẹp hơn và chất lượng nhìn qua khó có thể biết đôi nào tốt hơn đôi nào. Cái giá thấp hơn đó chính là bù cho việc thông tin mang lại cho người dùng ít hơn.

Đó cũng là lý do các doanh nhân thường rất thích bỏ tiền mua những chiếc ô tô thật sang trọng. Cũng là một cách “đánh tín hiệu” – cung cấp thêm thông tin đến đối tác về đẳng cấp hay khả năng tài chính của doanh nghiệp mình.

Dây an toàn và tính không thể đoán trước của chính sách

Trong cuốn Kinh tế học nổi tiếng của mình, nhà kinh tế học Paul Samuelson có một câu chuyện kinh điển dẫn chứng cho tính khó lường trước được của chính sách. Nhận thấy tình trạng những người đi xe ô tô bị tử vong rất nhiều vì đập mặt vào phía trước do không thắt dây an toàn, chính quyền ra một quy định bắt buộc những người lái xe phải thắt dây an toàn với hy vọng làm giảm số người chết.

car3.jpgNhưng sau một thời gian thực hiện quy định này, thì kết quả thật bất ngờ khi con số thống kê cho thấy số lượng tử vong có chiều hướng tăng nhẹ. Giải thích kết quả này ra sao?

Một cuộc điều tra cho thấy nguyên nhân chính là do khi bắt buộc phải thắt dây an toàn, những người lái xe vì vậy lại trở nên chủ quan hơn khi lái xe, nên số vụ tai nạn xảy ra nhiều hơn.

Quy định thắt dây an toàn trên thực tế đã có hiệu lực. Nó làm tỉ lệ tử vong trong các vụ tai nạn giảm. Nhưng vì số vụ tai nạn tăng lên, nên số người tử vong trên thực tế là không giảm.

Câu chuyện trên cho thấy tính khó lường trước của các chính sách. Do vậy khi đưa ra một chính sách cũng như nhận xét về tác động của một chính sách, những người đưa ra ý kiến cần rất thận trọng và nhìn nhận vấn đề dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Chẳng hạn như chuyện đánh thuế nặng lên những chiếc xe đắt. Nhiều người phản đối, nhiều ý kiến chỉ trích cho rằng, điều này làm những chiếc xe đắt càng trở nên đắt hơn. Và như vậy thì những người có mức thu nhập bình thường rất khó có cơ hội mua được những chiếc xe tốt. Tuy nhiên khi phân tích kỹ ra thì thực tế không hoàn toàn như vậy.

Với những chiếc xe thuộc nhóm chịu thuế nặng, nhưng có mức giá gần với mức chịu thuế thấp hơn, thì trong thực tế, nhà sản xuất có xu hướng hạ giá xe xuống để chịu mức thuế thấp hơn. Cho dù khi đó lợi nhuận thu trên mỗi chiếc xe giảm, nhưng mức cầu nhờ vậy lại tăng. Trong khi nếu giữ nguyên mức giá cũ, thì do giá chiếc xe vọt lên, nên lượng cầu với những chiếc xe loại này sẽ giảm, trong khi  những nhà sản xuất lại không được hưởng gì từ phần giá tăng thêm do thuế này, do phải nộp lại cho nhà nước.

Những người mua xăng lười nhác và mô hình Hotelling.

Có một ví dụ về mô hình hoạt động của thị trường đơn giản mà rất thú vị do nhà kinh tế học Hotelling đề xuất.

Trên một khu phố dài, có hai trạm bán xăng ở hai đầu, ta gọi là trạm xăng Trái và Phải. Và những người đi ô tô trong khu phố đều mua xăng theo nguyên tắc "lười nhác", nghĩa là đi đến trạm bán xăng gần mình nhất.

Như vậy lúc đầu lượng người mua xăng sẽ tương đối đồng đều cho hai trạm bán xăng. Nhưng nói chung những anh chàng chủ trạm xăng sẽ có xu hướng dịch trạm xăng của mình vào giữa khu phố.

Tại sao lại vậy? Rất dễ hiểu. Những chiếc xe đang hoạt động giữa hai trạm xăng sẽ chia đôi cơ hội cho cả hai trạm xăng này, phụ thuộc vào khoảng cách từ nó đến trạm xăng nào gần hơn.

Còn những chiếc xe ô tô không ở giữa hai trạm xăng đương nhiên sẽ chỉ có một lựa chọn duy nhất. Những chiếc xe nằm ở phía trái sẽ đến trạm xăng Trái, và những chiếc xe nằm ở phía phải sẽ đến trạm xăng Phải.

Và do cả hai anh chàng chủ trạm xăng đều muốn tối đa hóa cái khoảng của riêng mình, nên cuối cùng kết cục dẫn đến là cả hai trạm xăng sẽ chập vào một chỗ ở trung tâm khu phố - nơi sẽ phải cạnh tranh nhiều nhất và có lẽ cũng bất hợp lý nhất.

car4.jpg

Ví dụ trên của Hotelling được đưa ra như một mô hình cho thấy không phải lúc nào thị trường cũng vận hành theo cách hiệu quả nhất, như những nhà kinh tế học chính thống vẫn hằng tin tưởng.

                                                                                                                    Theo Dân Trí

Trương Trí Vĩnh (Kubrik)

 
Bookmark and Share
  File gắn kèm:
 
  File download:
 
Điểm trung bình:           Tổng điểm: 39/ 9 lượt bình chọn
Bình chọn:
 

+ Thêm vào Bài viết ưa thích +   

+ Xóa bỏ việc nhận tin nhắn thông báo khi có thảo luận mới cho bài viết này +   
 
Bổ sung nội dung cho bài viết và tranh luận( 2)
  kubrik (17/04/2007 06:15 PM) Có ích: 2/2    
 

Hi hi, lò dò vào Saga chơi, lại thấy bài mình viết thù lù trên này. Hị hị, nói thật với các bác là bài này em viết chả có tư tưởng cao siêu gì cả. Chỉ là đói quá, viết chơi một bài lấy tiền tiêu tết hé hé.

Lý thuyết thì của người ta. Em chỉ góp nhặt lại thành một bài để bà con đọc lai rai đỡ buồn thôi hé hé. Nếu bà con đọc mà nhận xét là cũng vui vui, giải trí được, thế là đúng mục đích của em rồi đó.

Gửi lời hỏi thăm Vương giáo sư!

 
   
     
  zVuong (23/03/2007 09:16 AM) Có ích: 2/2    
 

Đọc mãi tôi mới đoán ra ý tứ của tác giả bài này. Nó nằm ở câu kết thúc. Đúng là kinh tế thị trường không phải liều thuốc tiên cho mọi vấn đề, kể cả khi nó là thị trường hoang dã hay là hiện đại. Để minh chứng cho điều này, chúng ta viện tới kinh nghiệm những người đã làm giàu và nghiên cứu trong thể chế đó.

George Soros trong bài phát biểu của ông về thăm trường cũ, London School of Economics, có nói rằng "Thị trường luôn làm chúng ta thất vọng mỗi khi nền kinh tế cần tới nó nhất." Ông luôn lấy sự thất bại của cơ chế thị trường làm nguyên cớ sinh ra của cải, một triết lý đầu tư kỳ lạ, nhưng nhìn vào thành quả của ông thì chúng ta khó mà bác bỏ. Ông cũng nói rằng nói tới thị trường là người ta nhìn vào vẻ đẹp cung-cầu, nhưng cân bằng là cung=cầu trong khi đó trạng thái này là một trạng thái chuyển tiếp ngắn ngủi trong vô số các trạng thái mất cân bằng.

Ở một góc độ khác, Napier và Thomas (2004) có nói rằng họ nghiên cứu mãi và thấy nếu như kinh tế kế hoạch gây ra hiệu ứng kế hoạch hóa và kèm theo đó là khủng hoảng thiếu thì kinh tế thị trường gây ra hiệu ứng chạy theo cung-cầu-giá và thường xuyên gây ra khủng hoảng thừa.

Bản thân thị trường vô cùng quan trọng, nhưng cơ chế nào để vận hành nó là việc của con người trong đó có cả thiết chế "cấu trúc vi mô," hay gọi là microstructure. Cấu trúc tốt thì người ta dễ đạt tới điểm cân bằng ngắn hạn, trước khi chuyển sang cân bằng mới mà không mất quá nhiều thời gian, và như vậy một chuỗi cân bằng liên thời hình thành. Nó trơn tru bao nhiêu thì xã hội đau đớn bấy nhiêu. Còn loại cân bằng giật lên giật xuống, hiệu chỉnh liên tục bằng tài sản của nhà đầu tư và thường xuyên bị con người can thiệp thì thật là nhiều hiệu ứng tiêu cực và bất ổn xã hội.

 
   
     
 
Thảo luận (1) Thành viên ưa thích (7)
Trang trước   -  1/1  -   Trang sau
 
  simba (23/03/2007 09:30 AM)  
 
Ví dụ của Hotelling chỉ đúng với hai trạm xăng. Khi số trạm tăng lên 3 thì vẫn áp dụng được, nhưng có 4 trạm là khác rồi. Như vậy với số lượng lớn thì thị trường vẫn vận hành hiệu quả  :D
 
   
     
 
     Gửi thảo luận (Vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu. Nếu bạn chưa có bộ gõ Tiếng Việt, nhấn vào đây  
     
Tiêu đề 
   
 
( Tối đa1MB)
 
    (Để tham gia thảo luận, bạn cần đăng nhập)  
 
 
 
:: CÁC BÀI LIÊN QUAN
 
 
:: CÁC BÀI MỚI TRONG NGÀY
 
 
:: CÁC BÀI TIẾP THEO
Lý thuyết bộ ba bất khả thi
Chính phủ trong nền kinh tế thị trường
Tổng quát hoá lịch sử tư tưởng kinh tế
Tổng quát hoá lịch sử tư tưởng kinh tế P.3
CÂN BẰNG NASH VÀ LỊCH SỬ LÝ THUYẾT KINH TẾ (III)
CÂN BẰNG NASH VÀ LỊCH SỬ LÝ THUYẾT KINH TẾ (II)
CÂN BẰNG NASH VÀ LỊCH SỬ LÝ THUYẾT KINH TẾ (I)
 
 
 
 

Đăng ký:216481 (Vàng: 21 - Bạc:11)

Thảo luận:42710

Thuật ngữ tài chính-kinhdoanh:4963

Hỏi đáp kinh tế-kinh doanh:1494

Counter:
hit counter

Chăm sóc kỹ thuật bởi  NVS

TRANG CHỦ  |  GIỚI THIỆU  |  SITEMAP |  ĐỐI TÁC  |  ĐIỀU KHOẢN  |  Ý KIẾN  |  LIÊN HỆ/QUẢNG CÁO
Liên hệ quảng cáo:
CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ TRỰC TUYẾN IP (IP MEDIA JSC)
Email: info@saga.vn
 
Hà Nội: Tầng 26 Xuân Thủy Tower, 173 Xuân Thủy, Q Cầu Giấy – ĐT: (04) 39446509
TP HCM: Lầu 5, 293 Điện Biên Phủ, P. 15, Q. Bình Thạnh - ĐT:(08) 54042168
Giấy phép số 362/GP-BC do Cục Báo chí, Bộ Văn hoá-Thông tin cấp ngày 05/12/2006.
® Ghi rõ nguồn "saga.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.