|
Người gửi:
--
16/04/2012 03:27 PM
Tình huống Quản trị Tài chính
(
Bình chọn:
--
:
--
Số lần đọc:
2222)
Em học môn quản trị tài chính mà gặp phải bài tập này không biết phải giải làm sao, xin các anh chị giúp em giải với. Vì đây là bài tập trong tài liệu ôn thi hết môn nên em rất cần ạ.
Hy vọng được anh chị giúp em giải quyết khó khăn.
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
Trường Giang là một công ty cổ phần, thành lập vào năm 1997, chuyên sản xuất và kinh doanh sản phẩm dệt may. Đây là mặt hàng có tính cạnh tranh cao và luôn chịu áp lực giảm thấp chi phí để thu hút khách hàng. Trong những năm đầu mới họat động, công ty sử dụng chủ yếu vốn chủ sở hữu để tài trợ cho hoạt động do các nhà quản lý ở công ty có tâm lý không thích sử dụng nợ vay. Tuy nhiên, từ năm 1990, để đáp ứng nhu cầu mở rộng nhà xưởng, công ty phải nhận các nguồn tài trợ bên ngoài. Hầu hết, các khoản vay nợ của công ty từ một Ngân hàng K. ở địa phương.
Trong những năm đầu thập niên 2000, công ty được ngân hàng đánh giá là một khách hàng có uy tín, mặc dầu năm 2004, một dự án sản xuất sản phẩm may bị thất bại. Sau sự kiện này, ngân hàng K. kiểm tra họat động tài chính của công ty chặt chẽ hơn, nhất là những vấn đề liên quan đến khả năng thanh toán. Tuy vậy, hầu hết các chuyên gia tín dụng ở ngân hàng đều cho rằng, Trường Giang có rủi ro tín dụng thấp, và thực tế là công ty luôn dễ dàng nhận các khoản tín dụng từ ngân hàng. Hiện tại, công ty đang cần một khoản tín dụng 500 triệu đồng trong kế hoạch đổi mới thiết bị. Kế hoạch này được xem là rất cần thiết cho sự phát triển trong tương lai của công ty.
Ông Tài là nhân viên phòng tín dụng, vừa được phân công theo dõi hoạt động của công ty Trường Giang. Phản ứng ban đầu của ông Tài là có thể chấp thuận khoản tín dụng mà công ty đang yêu cầu. Rất may là ông Tài chưa bày tỏ ý kiến này với ông An, trưởng phòng tài chính của Trường Giang; vì những biến cố bất ngờ trong kinh doanh luôn có khả năng xảy ra. Có nhiều dấu hiệu cho thấy, công ty sẽ gặp nhiều khó khăn khi yêu cầu khoản tín dụng này.
Do những khó khăn trong khu vực nên ngân hàng đang kiểm soát chặt tín dụng đối với khách hàng. Điều này có nghĩa: các khoản tài trợ sẽ khó khăn hơn và ngân hàng phải xem xét từng yêu cầu vay nợ một cách nghiêm túc. Sau khi xem xét lại tình hình của Trường Giang, ông Tài cho rằng: thực trạng tài chính của công ty không tốt và có dấu hiệu xấu. Công ty vi phạm một số điều khoản đã ký với ngân hàng, như: khoản dự phòng qui định về khả năng thanh toán hiện hành không được thấp hơn 1,8.
Ngoài ra, còn một vấn đề liên quan đến khoản vay của công ty. Theo ý kiến của ông trưởng phòng tài chính Trường giang: vấn đề tái cấu trúc nợ là mối quan tâm lớn nhất và yêu cầu của công ty là ngân hàng tiếp nhận các khoản nợ này và công ty sẽ trả dần trong 5 năm đến. Ông Tài không đồng ý ngay đề xuất này vì cùng với những khó khăn hiện tại của phía ngân hàng, phòng tín dụng mong muốn các khoản vay nợ được trả càng nhanh càng tốt. Nghĩa là, vấn đề tái cấu trúc nợ không thể chấp nhận; và khoản vay mới theo đề xuất của công ty chỉ là khoản tín dụng ngắn hạn. Tuy nhiên, quan điểm của ngân hàng là nên có một kế hoạch thống nhất để thõa mãn nhu cầu hai phía.
Toàn bộ ý kiến trên được ông An thông báo lại ở cuộc họp HĐQT tại Trường Giang. Ông chưa dự tính trước các đánh giá của ngân hàng, nhưng cảm thấy có nhiều dấu hiệu tích cực để giải quyết khó khăn này. Hiện tại, công ty đang gặp khó khăn, và các thành viên HĐQT cho rằng, những khó khăn đó là nhất thời và hầu hết mọi người hy vọng giai đoạn khó khăn của thị trường dệt may sẽ qua đi. Ông An tán đồng quan điểm đó, nhưng đó chỉ là khó khăn của hai năm trước. Các chuyên gia dự báo: sự suy giảm của thị trường đã qua đi và có nhiều dấu hiệu cho thấy nhu cầu sản phẩm dệt may đang gia tăng. Ông An dự báo là doanh thu sẽ tăng 10% trong năm 2009.
Theo ông An, để giải quyết một số khó khăn, Trường giang nên có một số thay đổi trong quản lý. Trước đây, khi nhận thấy nhu cầu cắt giảm, công ty đã nới lỏng tín dụng bán hàng và dự trữ nhiều loại hàng nhằm tăng khả năng lựa chọn của khách hàng với hy vọng nhằm tăng doanh thu. Ông An đã từng phản đối cách làm này. Kết quả là hiện tại, công ty đang dự trữ một lượng lớn hàng tồn kho và số dư các khoản phải thu rất lớn. Theo ông An, số ngày bình quân vòng quay khoản phải thu nên giảm xuống còn 60 ngày trong năm 99 và số vòng quay hàng tồn kho sẽ tăng lên 5,4 vòng/năm, bằng với mức trung bình ngành. Công ty cũng nên thực hiện chương trình cắt giảm chi phí. Với những phương án đó, tỷ suất lợi nhuận gộp trên doanh thu là 31% và chi phí bán hàng & QLDN chiếm 21,5% so với doanh thu.
Một trong các lý do làm tỷ số khả năng thanh toán hiện hành của công ty kém hấp dẫn là do công ty rất chậm trong thanh toán các khoản nợ phải trả người bán. Theo ông An, khoản phải trả chỉ nên chiếm 9% so với doanh thu - một tỷ số mang tính cạnh tranh với các đơn vị khác.
Ông An cũng nhận thức những vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn vốn và các khoản vay nợ trong những năm gần đây với ngân hàng K. Ông cảm thấy ngân hàng có vẻ hào phóng khi cấp tín dụng cho đơn vị. Theo ý kiến cá nhân, Trường Giang nên tăng cường vốn chủ sỡ hữu bằng cách gỉam thanh toán cổ tức và phát hành thêm cổ phiếu mới. Thực tế trong năm 96, ông đã từng đề nghị công ty giảm tỷ lệ thanh toán cổ tức từ 50% xuống còn 20% trên lợi nhuận sau thuế. Tuy nhiên, đề xuất này không dược ủng hộ. Ông quyết định làm những dự báo tài chính với tỷ lệ thanh tóan cổ tức là 50%. Yêu cầu:
1. Tính toán các chỉ tiêu tài chính cần thiết của công ty năm 2008 (xem phụ lục 1, 2,3). Khuynh hướng của các chỉ tiêu có cho thấy: vị trí tài chính của công ty Trường Giang có chiều hướng cắt giảm?
2. Anh (chị) đánh giá các ý kiến của phía ngân hàng như thế nào?
3. Năm 2007 là một năm đi xuống của Trường Giang. Nếu ngân hàng cảnh báo những khó khăn này vào năm 2007, đặc biệt là khi khả năng thanh toán hiện hành gần con số 1,86; thì con số đó có làm cản trở trong việc nhận khoản tín dụng ? Giải thích. 4. Giả sử từ năm 2006 dến năm 2008, công ty thực hiện đề xuất về giảm tỷ lệ thanh toán cổ tức của ông An. Hãy tính lại tỷ suất nợ, khả năng thanh toán hiện hành cho năm 2008. Biết rằng, khoản tiền dôi ra dùng để thanh toán các khoản nợ vay ngắn hạn.
5. Theo ông An, tại Trường giang, quy mô nguồn vốn thường xuyên quá bé và ông quan tâm đến sử dụng nhiều hơn nguồn này để tài trợ hàng tồn kho và nợ phải thu. Ý kiến của anh (chị) về quan điểm này như thế nào? Nếu dùng nợ ngắn hạn để tài trợ TSCĐ thì có những bất lợi và lợi điểm gì?
6. Lập báo cáo lãi lỗ dự toán của công ty năm 2009, giả sử ngân hàng tài trợ khoản tín dụng ngắn hạn 500tr với lãi suất 18% 7. Theo anh (chị), những đề xuất của ông An sẽ thay đổi đánh giá của phía ngân hàng (Giải thích). Nếu ngân hàng không cấp các khoản tín dụng, thì công ty Trường giang có thể thực hiện những phương án nào?
Phụ lục 1- Báo cáo kết quả HĐKD (đvt: triệu đồng)
2006 2007 2008
Doanh thu 18.174 19.088 19.756
Giá vốn hàng bán 12.726 12.969 13.921
Lợi nhuận gộp 5.988 6.119 5.835
Chi phí bán hàng & QLDN 4.116 4.377 4.850
trong đó: Khấu hao TSCĐ 224 291 355
Lãi vay ngân hàng 219 334 428
Lợi nhuân trước thuế 1.653 1.408 557
Thuế thu nhập 826 704 278
Lợi nhuận sau thuế 827 704 279
Phân phối cổ tức 413 352 139
Lợi nhuận để lại doanh nghiệp 414 352 140
Phụ lục 2- Bảng cân đối kế toán (đvt: triệu đồng)
2006 2007 2008
TÀI SẢN
Tài sản ngắn hạn 6.737 8.550 9.579
Tiền 936 916 651
Khoản phải thu 2.807 3.855 4.385
Hàng tồn kho 2.994 3.779 4.543
Tài sản cố định 1.404 1.927 2.471
Nguyên giá TSCĐ 2.240 3.054 3.953
Hao mòn TSCĐ (836) (1.127) (1.482)
Tổng cộng tài sản 8.141 10.477 12.050
NGUỒN VỐN
Nợ ngắn hạn 2.806 4.400 5.630
Vay ngắn hạn ngân hàng 823 1.336 1.778
Nơ phải trả người bán 1.497 2.316 2.864
Nợ ngắn hạn khác 486 748 988
Nợ dài hạn 929 1.319 1.530
Nguồn vốn chủ sỡ hữu 4.406 4.758 4.890
Nguồn vốn kinh doanh 3.000 3.000 3.000
Lợi nhuận chưa phân phối, quỹ 1.406 1.758 1.890
Tổng cộng nguồn vốn 8.141 10.477 12.050
Phụ lục 3 - Các chỉ tiêu tài chính của Trường Giang
2006 2007 2008 TB
ngành
Khả năng thanh toán hiện hành 2,4 1,94 1,95
Khả năng thanh toán nhanh 1,33 1,08 1
Tỷ suất nợ (%) 46 55 53
Khả năng thanh toán lãi vay 8,54 5,2 5
Số vòng quay hàng tồn kho 6,25 5,1 5,4
Số ngày bình quân vòng quay nợ 54 72,7 51
phải thu
Hiệu suất sử dụng TSCĐ 13,33 9,91 10
Hiệu suất sử dụng tài sản 2,3 1,82 2,1
Tỷ suất LN gộp trên doanh thu 32 32 30,5
Tỷ suất LN sau thuế trên d.thu 4,4 3,7 3
ROA (%) 10,1 6,7 6,3
ROE (%) 18,7 14,8 13,3
Phụ lục 4 - Mẫu BCĐKT năm 2009 (triệuđ)
TÀI SẢN NGUỒN VỐN
TSNH Nợ ngắn hạn
Tiền Vay ngắn hạn
Khoản phải thu Nơ phải trảngười bán
Hàng tồn kho Nợ ngắn hạn khác 1.012
Tài sản cố định Nợ dài hạn 1.530
Nguyên giá TSCĐ 4.603 Nguồn vốn chủ sỡ hữu
Hao mòn TSCĐ (1903) Vốn cổ phần 3.000
LN để lại
Tổng cộng tài sản Tổng cộng nguồn vốn
Tổng chi phí khấu hao năm 2009 là 421 triệu đồng
Vì các phụ lục dưới dạng bảng nên em copy có bị lệch, làm khó nhìn rõ số liệu. Em có đính kèm file ở phía dưới để anh chị xem rõ hơn
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG.docx
Bài viết gốc tại: http://www.vnecon.vn/showthread.php?t=89165&pagenumber=#ixzz1rssvYA00
|