|
Người gửi:
--
08/04/2007 02:10 AM
Những thiên tài của thế kỷ 21
(
Bình chọn:
--
:
--
Số lần đọc:
1777)
Công thức của Einstein đã
đem đến cho nhân loại bom nguyên tử và hệ thống định vị toàn cầu, nhưng
bản thân nhà thiên tài chỉ tạo ra công thức, đem sáng kiến vào thế giới
và mở rộng tầm nhìn. Tấm gương của Einstein đưa ra những chỉ dẫn làm
cách nào để con người trở thành thiên tài. Quan trọng nhất, là phải có
một nhà lý thuyết với tầm nhìn xa - cũng giống như Charles Darwin, cha
đẻ của thuyết tiến hóa, nhà thiên tài vĩ đại của thế kỷ 19. Darwin đã
làm một chuyến du hành nghiên cứu vòng quanh thế giới, sau đó về sống ở
miền nam nước Anh và phát triển suy tưởng của ông về thành sự hình
thành của các loài. Những khối tư tưởng của Einstein và Darwin đã làm
thay đổi tư tưởng toàn cầu.
Từ "bức tường hiểu biết", những
thiên tài như Einstein lấy ra một vài viên gạch, quan sát kỹ bản thiết
kế rồi bắt tay vào xây dựng một tòa nhà mới. Khi những thiên tài đã đặt
nền móng thì ngày càng có nhiều thợ xây đến và cùng xây căn nhà mới.
Khoa học bước sang một hướng mới. Thiên tài của nhân loại đưa ra những
viễn cảnh. Họ hiểu biết chuyên môn và tiếp xúc thoải mái với đồng
nghiệp. Nhưng đáng chú ý là họ không thuộc vào "dòng chảy chính". Phần
lớn họ chưa đầy 30 tuổi và thậm chí còn thích thú khi đi ngược lại với
những quan điểm đã được thiết lập.
1. Eric Drexler - người sáng lập của thế giới nano
Nano
nghĩa là gì? Máy nano được cấu tạo từ những bộ phận chỉ lớn khoảng vài
nano mét (nm). 1nm = 10-9 mét. Trên khoảng cách vô cùng nhỏ bé này chứa
vừa đủ bốn nguyên tử. Giả sử mỗi con cá chỉ lớn 1nm thì tất cả cá trong
đại dương có thể cùng bơi trong một giọt nước.
Eric Drexler sinh
năm 1955 ở California và học ở Học viện kỹ thuật Massachusetts, Mỹ. Năm
1986 ông cùng vợ Christine Peterson thành lập viện Foresight và cống
hiến những sáng kiến về nano.
Eric Drexler là phiên bản của một
thiên tài viễn ảnh. Từ lâu ông không còn nghiên cứu trong phòng thí
nghiệm nữa. Thay vào đó, ông đã tạo nên một ngành hoàn toàn mới của
khoa học. Trong những năm đầu của thập kỷ 80, Drexler đã cho đăng nhiều
đề tài trên những tạp chí chuyên môn và năm 1986 là cuốn sách phổ biến
rộng rãi "Engines of Creation“ (Máy sáng tạo).
Đó là giờ khai
sinh của ngành công nghệ nano. Ngày nay "nano" là một từ phổ biến,
nhưng lúc Drexler bắt đầu nói về nó thì thế giới nano hãy còn là một
vệt trắng trên bản đồ tri thức.
Ý tưởng của ông nghe có vẻ như
hoàn toàn không tưởng: “Chúng ta sẽ sử dụng nguyên tử và phân tử như là
Bits và Bytes trong máy vi tính. Người ta sẽ có thể lắp ráp những
nguyên tử một cách tin tưởng và nhanh thành những kiểu mẫu mới. Chế tạo
máy từ những nguyên tử đơn chiếc? Trong thập kỷ 80 thì điều đó giống
như là sự thật về đĩa bay.
Tham vọng của Drexler còn đi xa hơn:
Ông mơ đến những chiếc máy phân tử như là máy vạn năng, được gọi là
Assembler: đó là những chiếc máy nano, có thể chế tạo được bất cứ vật
gì và tái tạo chính chúng. Assembler có thể được lắp vào những chiếc
máy giống như máy in. "Những hộp mực in" kiểu mới sẽ cung cấp cho "máy
in" những nguyên tử của từng nguyên tố. Và như vậy, sẽ không có giới
hạn đối với Assembler. Người ta có thể ra lệnh cho chúng sản xuất điện
thoại di động theo bản thiết kế mới, chúng có thể chế tạo một chiếc xe
hơi hay là cả một con bò....

Sau
khi Drexler đưa vào thế giới những ý tưởng của mình, ngày càng có nhiều
nhà nhiên cứu tham gia vào chuyên ngành mới của công nghệ nano. Năm
1986, gần như cùng lúc với quyển sách của Drexler, nhà vật lý người Đức
Gerd Binning đã phát minh kính hiển vi lực nguyên tử, không những có
thể "nhìn thấy" từng nguyên tử mà còn chuyển động được cả chúng nữa.
Nhờ đó đã tạo ra được bước đi đầu tiên vào thế giới nano. Ngày nay
"nano" đã khắc vào cuộc sống hàng ngày của chúng taCông nghệ này ẩn
trong những ổ cứng của máy vi tính và kem chống nắng.
Chỉ có
Assembler là vẫn chưa biết khi nào mới có. Tối thiểu thì những động cơ
thích hợp đã có, được chế tạo bởi nhà công nghệ sinh học Carlo
Montemagno. Trong cái máy của ông, những phân tử protein làm chuyển
động một cánh quạt tí hon bằng Nickel. Một sáng chế mà nếu không có tấm
gương của Drexler thì Montemagno có lẽ không bao giờ thực hiện được.
Tất
nhiên, không phải tất cả các viễn ảnh đều thực hiện được. Ai làm việc
với các nguyên tử đều đụng phải các lực vô hình trong thế giới khổng lồ
của chúng ta. Và vì thiên nhiên vẫn thường tạo ra nhiều vấn đề rắc rối
trong tế bào cơ thể, nên bước tiếp theo của công nghệ nano sẽ phải là
hòa nhập với công nghệ sinh học. Drexler nhìn xa rằng "trong 30 năm
nữa, công nghệ sinh học sẽ tạo ra những bước tiến khổng lồ. Bằng sự
phối hợp với kỹ thuật nano, sẽ có thể điều trị bệnh trong từng tế bào.
Tuổi thọ của chúng ta sẽ tăng không lường được“.
2. Lisa Randall - Người giải thích lực hấp dẫn
Lisa
Randall sinh năm 1962 và lớn lên ở New York. Sau khi tốt nghiệp Đại học
Harvard bà được nhận ghế giảng dạy tại Đại học Princeton và Học viện kỹ
thuật Massachusets. Bà là người phụ nữ đầu tiên trong vị trí này tại
những trường đại học danh tiếng trên. Ngày nay bà lại giảng dạy ở Đại
học Harvard. Randall sống độc thân và không có con.
Phạm vi
nghiên cứu của bà gọi là "lý thuyết vật lý năng lượng cao". Trong vật
lý có một thứ được gọi là mô hình tiêu chuẩn, dùng để mô tả các hạt của
vật chất và các lực tự nhiên cơ bản. Những nhà khoa học như Randall
muốn tìm hiểu vì sao vật chất và các lực lại có nét đặc trưng như hiện
nay.
Thỉnh thoảng Lisa Randall lại có vấn đề với vật lý, trước hết là với lực hút trái đất: "Lẽ ra điều đó không thể đơn giản xảy ra được", bà nói về cú ngã khi trèo núi. "Lộ trình thì đơn giản và tôi được cột dây cẩn thận". Thế nhưng bà vẫn rớt xuống và bị bể gót chân. Trong bệnh viện bà đã viết cuốn sách "Những vũ trụ ẩn mình".
Theo tờ New York Times thì đó là một trong những cuốn sách quan trọng
nhất trong năm. Randall đã giải quyết được nhiều điều bí ẩn xung quanh
một trong những hiện tượng phức tạp nhất của tự nhiên: lực hút trái đất
hay là lực hấp dẫn.
Có phải vũ trụ của chúng ta lơ lửng trong không gian 5 chiều?
Lisa Randall đã trình bày một lý thuyết có thể trả lời được những câu hỏi của vật lý.
Điều
làm cho các nhà vật lý lâu nay đau đầu: Lực hấp dẫn yếu hơn những lực
cơ bản khác rất nhiều. Nó có thể làm gãy một bàn chân, thế nhưng một
thỏi nam châm, khi hút một cái đinh trên bàn, đã thắng cả lực hút trái
đất..
"Nhưng điều đó đã chỉ ra rằng, người ta có thể giải thích
lực hấp dẫn hoàn toàn mới, nếu người ta cho rằng, có nhiều hơn 3 chiều
không gian", Randall nói.
Đối với hình ảnh vũ trụ của bà thì cần tới 5 chiều không gian. Theo bà, Vũ trụ của chúng ta
tương tự như một lá cờ hoặc một cái màng 3 chiều, dao động tự do trong
một không gian vô tận, có những chiều đặc biệt cho cái không gian đó.
Gần ngay bên cạnh có một Vũ trụ song song như là cái màng thứ hai. Cả
hai đều không liên kết với nhau, chỉ có lực hấp dẫn có thể từ Thế giới
song song "nhỏ giọt" vào thế giới của chúng ta. Trong Vũ Trụ song song
thì lực hấp dẫn cũng mạnh như tất cả các lực tự nhiên cơ bản khác. Ở
thế giới chúng ta nó yếu hơn, bởi vì nó đến từ bên ngoài. Nó có lẽ là
một lực hơn cả lực ngoài trái đất, có lẽ nó là lực ngoại vũ trụ.
Lý
thuyết này mang tính cách mạng đến nỗi, nó đã làm cho Randall trở thành
một ngôi sao trong ngành vật lý. Trong 5 năm qua những công trình của
Randall đã được các đồng nghiệp của bà trích dẫn hơn 10.000 lần trong
những đề tài của họ. Và mặc dù lý thuyết của Randall có nhiều điều chưa
được chứng minh, nhưng nó vẫn mang những chuỗi tư tưởng rất lôgic, và
đem đến cho các nhà thực hành trong phòng thí nghiệm hàng năm trời làm
việc.
Những nhà lý thuyết khác cũng dựa theo lý thuyết của Randall và xây lên những tòa nhà tư tưởng mới.
Một
nhóm những nhà nghiên cứu từ Mỹ và Anh đã đặt ra câu hỏi, điều gì xảy
ra nếu các màng chạm nhau? Họ phát hiện ra trong công thức của Randall
một câu trả lời khả dĩ: Sự va chạm gây ra vụ nổ nguyên thủy và từ đó đã
tạo ra sự khởi đầu cho tất cả những gì đang tồn tại trong vũ trụ của
chúng ta ngày nay.
"Khi chúng tôi tính toán điều gì đã xảy ra ở
một vụ va chạm như thế, chúng tôi đã đi đến những kết quả trùng hợp khá
chính xác với những dữ liệu của vụ nổ Big Bang", ông Burt Ovrut ở Đại
học Pennsylvania nói. "Nhiệt độ, tốc độ lan tỏa, sự hình thành của vật
chất, tất cả dường như là khớp với nhau". Như thế Randall đã cung cấp
tiền đề để giải thích nguồn gốc vũ trụ của chúng ta. Trong khi đó
Randall cũng đã trở thành một đại diện quan trọng nhất trong ngành khoa
học của bà, bà viết những quyển sách bán chạy nhất và xuất hiện trên
truyền hình.
3. Craig Venter - Người giải mã bộ gene của đại dương
Craig
Venter sinh năm 1946 ở Salt Lake City, Mỹ. Ông tham gia Hải quân và là
lính quân y phục vụ tại Việt Nam. Venter đã nghiên cứu sinh hoá, tâm lý
và dược phẩm. Sau đó ông làm việc cho một viện nghiên cứu sức khỏe quốc
gia. Tại đây ông đã phát triển ra một tiến trình mang tính cách mạng để
giải mã gene. Với sự hiểu biết này ông đã tự lập công ty riêng. Ngày
nay mục tiêu của ông là sự sống nhân tạo.
Với phân tử ADN, Craig
Venter đã tạo ra bước đột phá mũi nhọn của việc nghiên cứu sinh học.
Ông đã giải mã bộ gene của người và muốn sử dụng những kiến thức này để
tạo ra những loại thuốc hoàn toàn mới.
"Ngày nay, một đứa trẻ
với sự giúp đỡ của những dụng cụ hiện đại nhất có thể phát hiện trong 1
ly nước biển nhiều gene và loài hơn cả phần còn lại của thế giới trong
những thập kỷ qua". Craig Venter nói, và trong câu nói đó là nền tảng
cho tầm nhìn tương lai của ông. Với chiếc thuyền buồm "Sorcerer 2" ông
đã đi vòng quanh thế giới để lấy những mẫu nước. Ông đưa các mẫu vật
qua những cỗ máy phân tích khổng lồ ở viện nghiên cứu của mình. Nhiệm
vụ của những cỗ máy đó là: tìm kiếm gene chưa được biết đến. Ông đã tập
hợp được 1,2 triệu gene. Kết luận của Venter: "99% sinh vật sống ở biển
vẫn chưa được phát hiện". Phần lớn chúng có thể là những đơn bào, nhưng
những thông tin về gene có thể làm chúng trở thành kho vàng.

Venter
ước mơ tạo ra cuộc sống nhân tạo. Bước đầu tiên, ông tạo ra một ngân
hàng dữ liệu gene khổng lồ: Bộ gene của đại dương. Venter không định
sáng tạo ra chiếc xe hoàn toàn mới. Thay vào đó, ông muốn lắp đặt một
động cơ mới vào một khung xe cũ. Cái khung xe đó là một vi khuẩn sơ
cấp. Nó đem lại cho sinh vật của Craig vỏ bọc. Khi ông giết chết gene
tự nhiên của nó, ông sẽ sử dụng đến ngân hàng dữ liệu của mình và lắp
ghép một bộ gene hoàn toàn mới trên máy vi tính từ những gene riêng lẻ.
Chất liệu sự sống mới này sẽ được đặt vào vỏ vi khuẩn. Kết quả là một
sinh vật hoàn toàn mới.
"Khi chúng tôi có một sinh vật tổng hợp
với những gene tối thiểu, chúng tôi có thể tạo những gene mới và quy
định thật cụ thể, các gene đó thay đổi sinh vật của chúng tôi như thế
nào". Giả sử Venter có một công cụ nghiên cứu màu nhiệm mới nào đó, có
lẽ ông sẽ đưa mình lên một bậc ngang với thượng đế. "Mục tiêu của tôi
là cứu hành tinh", Craig Venter nói đầy tham vọng. Nếu sinh vật của
Venter lúc nào đó mà sống được, nó sẽ phải học, sản xuất những nhiên
liệu mới, chế tạo ra các dược phẩm hoặc là tiêu diệt khí thải gây ra
hiệu ứng nhà kính.
"Tôi xin được phép hướng sự quan tâm của quý
ngài vào một bài báo mà tôi vừa công bố". Với một câu ngớ ngẩn như thế,
gửi qua mail đến một người bạn đồng nghiệp, mà cách mạng hóa thế giới
toán học thì chỉ có Perelman mới có thể làm được.
4. Grigori Perelman - thiên tài toán học
Perelman
sinh năm 1966 tại St. Petersburg. Ông học tập ở Nga và những trường đại
học danh tiếng của Mỹ. Ông đã từ chối những đề nghị mời giảng dạy. Hiện
nay ông sống ở Nga, có thể là sống cùng với mẹ, thích đi xem hát kịch
và không có việc làm.
Trong thời gian học tập,ông đã dành thời
gian cho toán học hình cầu của Henri Poincaré. Qua đó ông đã chạm phải
siêu vấn đề về sự phỏng đoán Poincaré, bài giải của nó đã quyết định
cuộc đời của ông.
Trong bài báo mà ông đưa lên mạng vào năm
2002, Perelman đã chứng minh được phỏng đoán Poincaré và đã giải được
vấn đề khó nhất của tất cả mọi thời đại - một bước ngoặt thế kỷ của
toán học. Có lẽ đó là thành tích lớn nhất mà một bộ não riêng lẻ đã làm
được.
Một con người có thể tạo ra được hình thể của vũ trụ không?
Bộ não của Perelman có năng suất hơn cả cơ thể của một vận động viên Olympic, thế nhưng ông lại giấu mình với thế giới.
Henri
Poincaré sống cách đây 100 năm và là cha đẻ của môn cấu trúc liên kết
(hay còn gọi là Tô-pô học: Topology), một lĩnh vực chuyên môn của toán
học, còn được gọi là hình học về miếng cao su. Poincaré nhận ra rằng,
về nguyên tắc tất cả các hình thể của thế giới đều có thể dẫn trở về
hình cầu. Nếu người ta lấy một quả cầu bằng cao su, người ta có thể nặn
nó cho đến khi nó nhìn giống như một cái tai thỏ hoặc như một ống nghe
điện thoại. Nhưng nếu người ta không được phép làm tổn thương đến bề
mặt của quả cầu, thì không thể nặn nó trở thành một cái ly cà phê, vì
ly cà phê có một cái lỗ ở quai.
Poincaré phỏng đoán rằng, ý nghĩa cơ bản này của quả cầu không chỉ có giá trị trong không gian
3 chiều của chúng ta, mà còn cả trong những không gian nhiều chiều. Sự
chứng minh cho phỏng đoán này phức tạp đến nỗi, 100 năm qua các nhà
toán học đã hoài nghi - cho đến khi Grigori Perelman trình bày công
trình của ông trên Internet. Công trình này tất nhiên không dễ hiểu:
các đồng nghiệp của Perelman đã bỏ ra 4 năm miệt mài cho đến khi họ
hiểu được công việc của ông. Kể cả ngày nay cũng chỉ có một số rất ít
các nhà toán học hiểu được cách Perelman xây dựng luận chứng của ông
như thế nào.
Một thành tích vĩ đại như thế, vậy mà Perelman đã
tạo ra bước đột phá chỉ có một mình. Ông đã làm việc trong một viện
nghiên cứu nhỏ, không hề tiếp xúc với các nhà toán học khác. Ngay cả
trong cái thế giới không bình thường của toán học thì Perelman vẫn luôn
là một kẻ lập dị, người có hàng ngàn điều đồn thổi. Sau khi có tin rằng
ông được đề cử nhận giải Nobel toán học, ông đã biến mất. Ông đã xin
thôi việc, không trả lời phỏng vấn, không trả lời email. Các nhà chuyên
môn ước tính, còn cần cả trăm năm nữa để có thể hiểu được toàn bộ công
trình của Perelman. Điều đó hoàn toàn có ý nghĩa. Phỏng đoán Poincaré
tạo ra những trình bày quan trọng về hình thể của cả vũ trụ. Nhờ có
Perelman, những nhà nghiên cứu một ngày nào đó sẽ hiểu được vũ trụ
nhiều hơn.
Theo vnexpress.net
|