Đọc câu chuyện tự thuật của Tiến sỹ An Kim Bằng, tôi bỗng thấy mình cần làm một việc: Viết về Bà tôi – một con người bình dị, khiêm nhường. Sống một cuộc sống mẫu mực của người phụ nữ Việt Nam, cần cù, chịu khó, yêu thương gia đình và vô cùng đảm đang, Bà tôi đã qua đời và để lại cho xã hội, cho đất nước những người con yêu lao động, biết sống có ích.
Tôi tin tưởng tuyệt đối Bà Ngoại của tôi đã ra đi trong sự lạc quan, tình yêu cuộc sống và niềm tin tuyệt đối vào những con người xung quanh, dù bất kể điều gì xảy ra với chính mình. Ngoài tôi ra, bà có 2 đứa cháu nữa, một đang làm nghiên cứu sinh tiến sỹ ở Nhật, và một đã lập gia đình định cư ở Australia. Lúc đưa tang bà, có những chiếc khăn vàng là khăn của cháu gọi bằng cụ, là hai đứa trẻ con nhà tôi… Bọn trẻ con tới đám tang, trong sự tiếc thương của người lớn, mà cũng không kịp hiểu nhiều về người bình dị đang nằm kia đã sống cuộc đời khiêm nhường nhưng đáng kính biết nhường nào.
Tôi hi vọng sau này chúng lớn lên và sẽ hiểu. Tôi cũng mong chúng hiểu rằng Cụ của chúng có thể không bao giờ hiểu các hạt cơ bản vật lý, các công thức khí động học, sóng vi-ba, hay những phương trình tài chính… nhưng lại là người có thể dậy dỗ và chăm sóc nên những người có ích cho xã hội và hết lòng yêu lao động. Chúng sẽ hiểu được tới thế...
CHUYỆN VỀ BÀ TÔI
Bà tôi tên là Huỳnh Thị Xá, cái tên mà chỉ khi tôi rất lớn, đã ngoài 20 mới được biết. Trước đó, Bà tôi “không có tên”. Nói cho đúng hơn, tôi gọi là Bà Ngoại, và cứ thế,tới mức suốt một thời gian dài, trong tâm thức tôi, hai từ “Bà Ngoại” có nghĩa là “Bà Ngoại Của Tôi.”
Hàng xóm vẫn thường gọi Bà tôi bằng một cái tên khác - “bà Biên”. Nhưng đó vẫn không phải tên Bà tôi. Người ta gọi Bà tôi theo tên con trai cả, ông bác tôi (do từ miền Nam ra, nên gọi là “cậu”). Bà tôi mới Ra đi hôm mồng 4 Tết Âm lịch năm rồi (2008). Lúc bà mất, tôi (người cháu duy nhất) không ở Việt Nam. Được báo tin qua điện thoại, tôi đã vội bay về và may kịp đưa tang người Bà kính yêu về nơi vĩnh hằng.
Bà tôi - một đời vất vả
Trong đám tang, có những điều lần đầu tiên tôi mới được biết về người Bà kính yêu của mình. Bà tôi là một nông dân, tích cực hoạt động sản xuất và xã hội. Ông ngoại tôi mất từ lúc còn rất trẻ, tôi được biết là khi bà tôi mới ngoài 30. Với ba người con, giấu đi nỗi đau góa bụa, Bà tôi vẫn hoạt động sản xuất và tham gia nhiều hoạt động khác ở vùng Đức Phổ, Quảng Ngãi, một vùng đất nghèo, chỉ nổi tiếng với những bãi cát trắng trải dài và nồi cháo kê thanh đạm. Vùng quê ấy khó khăn lắm, vất vả lắm nhất là sau một thời kỳ dài chiến tranh.
Năm 1955, Bà tôi dắt theo ba người con, hai ông cậu và má tôi, tập kết ra Bắc. Tôi được kể lại rằng Bà tôi từng xin làm việc ở các khu vực Hải Phòng, rồi Quảng Ninh, là những nơi gần chỗ các con học tập để có thể trợ giúp khi cần. Cuộc sống tập thể của những người tha hương trong chiến tranh gặp nhiều vất vả và khó khăn. Nhưng nghị lực thép trong người con của miền Trung quả cảm đã cùng Bà tôi vượt qua những năm tháng ấy.
Lúc chiến tranh leo thang, máy bay B52 rải thảm miền Bắc, tôi được gửi theo Bà ra tận vùng biên Móng Cái. Nghe rất nhiều cái địa danh ấy mà chưa một lần được đến tận nơi. Nơi địa đầu tổ quốc Việt Nam, qua một dòng Kalong nhỏ là sang bên kia địa phận Trung Quốc.
Lúc nhỏ, thể chất oặt oẹo (nghe má tôi kể lại), nếu tôi không có Bà chăm sóc, chắc đã lâm rất nhiều trọng bệnh. Phụ trách một nhà trẻ ở đó, Bà tôi bận như con mọn. Tôi được Bà địu trên lưng, khi làm việc, lúc nấu ăn... cho nhà trẻ.
Với các con, Bà tôi cũng nuôi dậy hết mình. Những năm tháng khó khăn, việc học hành là chuyện lớn của tất cả các gia đình. Bà tôi đã hoàn thành trách nhiệm của một người mẹ, và cả của người cha trong gia đình, một cách thầm lặng mà vĩ đại biết bao. Ông Bác cả của tôi là một trong những giáo sư vật lý hạt nhân đầu tiên của Việt Nam, cùng thời kỳ oanh liệt của khoa học Việt Nam với những giáo sư tên tuổi như Nguyễn Đình Tứ (đã qua đời, khi sinh thời là bạn thân), Nguyễn Văn Hiệu, v.v.. Bác tôi, tiến sĩ khoa học tại Liên Xô (cũ) là một trong những người làm nên ngành vật lý nguyên tử-hạt nhân Việt Nam. Ông hiện vẫn là giáo sư tại ĐH Khoa học Tự nhiên -- ĐHQG Hà Nội.
Ông cậu út (em của má tôi) cũng là một trong những giáo sư đầu ngành về thiết kế vỏ tầu. Ông đạt học vị tiến sỹ khoa học ở Ba Lan, một trong những nước anh em đã giúp đào tạo đáng kể đội ngũ cán bộ ngành hàng hải cho Việt Nam. Đến giờ, ông vẫn là giáo sư ở TP.HCM, trước đó có kinh qua một số chức vụ quản lý như giám đốc công ty giàn khoan-tàu biển ở phía Nam.
Má tôi, thiệt thòi hơn (con gái trong xã hội thời cũ) cũng đã phấn đấu miệt mài suốt những năm chiến tranh, thuộc nhóm những kỹ sư bách khoa Hà nội đầu tiên. Sau này, má tôi là một trong những kỹ sư đầu tiên góp móng xây dựng Đài truyền hình Trung ương.
Tôi tin chắc, bất cứ ai như Bà tôi đều có thể và có quyền tự hào đã nuôi dậy được những người con trưởng thành trong thời khắc khó khăn nhất của lịch sử đất nước, cũng như của một gia đình.
Ký ức về Bà tôi
Khi chiến tranh qua đi, đất nước lại trải qua một thời kỳ khó khăn. Bà tôi sống cùng với ông bác cả giáo sư vật lý phía sau của Đại học Tổng hợp Hà Nội (cũ), tại khu Mễ Trì. Khu nhà nằm ngay cạnh các ruộng rau muống, ao chuôm, ruộng lúa - mía lúp xúp… Gọi là nhà, chỉ là những dãy nhà tạm bằng tranh tre, giấy dầu, bằng vách bùn trộn rơm... mưa cũng không lặng, nắng cũng chẳng yên. Cuộc sống hết sức khó khăn, tạm bợ. Khó lòng yên ổn dài lâu bên cạnh hàng núi các mối lo thường trực.
Với "tư cách” trẻ con, lũ chúng tôi (tôi và đám trẻ cùng tuổi) lại vô cùng thích thú cuộc sống ấy. Căn nhà tạm bợ, chật chội, nên gần như mặc định, tất cả mọi sự đều ở ngoài nhà. Duy nhất phải vào căn nhà đó là lúc ngủ ban đêm. Cuộc sống gần thiên nhiên như thế mà phải ngủ trưa thì thực sự là một cực hình. Những lúc bị nhốt (có thể thoát ra rất dễ dàng với cửa liếp và không bao giờ có khóa), tôi cũng có thể tìm thấy thú vui tưởng tượng ra lũ kiến đang bò vào bếp, chạn, như một đội quân. Còn có thể tìm thấy những tổ tò vò, đôi khi cả tổ ong vàng treo ngay vách đất, mà bọn trẻ con đồn đại là nếu bắt được con nhộng ấu trùng ăn thì rất bổ béo – một di sản của thời kỳ thiếu chất bổ.
Nhưng Bà tôi luôn muốn cháu mình phải sống có kỷ luật. Tôi khiếp nhất là cái roi tre, nhỏ và dài, mỗi khi phạm lỗi. Bà cũng dạy tôi hái rau, nhặt rau, chăm mía… và ủng hộ các trò chơi, nếu không nguy hiểm.
Để nuôi sống gia đình, và thi thoảng có tiền đỡ đần các con, cho quà cháu… Bà tôi làm lụng vất vả quanh năm. Nào nuôi gà, nuôi vịt, nào trồng mía, trồng rau... và sau này có vốn (khá giả hơn tý) thì nuôi lợn. Tất cả đều nhờ vào miếng đất chưa ai sử dụng ngay sát nhà. Mỗi hộ giáo viên thời đó đều cố gắng tận dụng những mảnh đất ấy mà sống.
Dù vất vả, dù khó khăn, chưa bao giờ tôi thấy Bà tôi kêu ca, phàn nàn bất cứ điều gì… Chỉ lao động, làm việc và tần tảo… Lần duy nhất tôi được nghe Bà “kêu ca”, nếu có thể gọi như thế, là lần sau khi Bà bán con lợn đã đủ cân, gần 1 tạ. Bà nói rằng rất tiếc vì khi trước cân được hơn 98kg, vậy người lái lợn cân “điêu” đi chỉ còn ngót 90kg. Hơn 8kg thịt lợn hơi là một tài sản với người nghèo. Bà tôi tiếc rẻ lắm. Còn tôi lúc đó, nghe thấy tức phát khóc… Tại sao người ta lại có thể làm như vậy với một người tốt và hiền lành, chịu đựng như người Bà của tôi kia chứ (sau này, tôi hiểu rằng, người ta có thể làm như thế với bất kỳ ai, chẳng chừa một ai!).
Cuộc sống ở khu nhà đó dường như là cuộc sống dành cho trẻ con. Những đứa trẻ ở đó không giống như ở trên phố (Hà Nội lúc đó rất bé), và chúng cũng nghèo hơn (một cách tương đối). Và cũng bởi vậy, có thể nói, phần vui nhất của cuộc sống tuổi thơ tôi là được ở với Bà tôi. Kỷ luật nhưng bà thương tôi lắm. Với những lỗi nhỏ của trẻ con, Bà cũng hay bỏ qua, và ít khi mách lại với bố mẹ. Tôi tuyệt đối an tâm khi tâm sự các chuyện riêng kiểu trẻ con, kể cả việc trốn học bỏ lớp… Những bữa cơm có thêm quả chuối, hay vài con tép, con cua bà vớt được luôn là niềm vui của tôi lúc bấy giờ.
Thương lắm, Bà ơi!
Lần đầu tiên tôi thấy thương bà là khi bà tôi đạp xe 7-8km để lên khu tập thể chỗ tôi sống cùng gia đình ở phố Trần Phú, Hà Nội, để lấy “nước gạo.” Nước gạo là các thùng thức ăn thừa các gia đình đổ vào đó. Để một vài ngày, thùng đó lên mùi ngây ngấy, chua hôi, ai cũng tránh xa. Nhưng Bà tôi bảo, loại nước gạo đó, nấu khéo với rau xanh… bọn lợn con ăn ngon lành và chóng lớn. Những chiếc thùng nặng quây bằng cao su, khâu dây gai và bít nhựa đường… thỉnh thoảng bục ra đổ lênh láng. Bà tôi, khi ấy đã lớn tuổi, còng lưng thồ 2 chiếc thùng trên chiếc xe đạp cũ kỹ. Tôi đã quay đi, nhiều lần, nước mắt cộm mi.
Về sau này, khu nhà vách đất ấy bị thu hồi. Những đồng lương hưu bé nhỏ của bà cũng chẳng thể đỡ nổi cuộc sống của bà, và nhà khoa học như bác tôi. Chia tay khu đất của trường để lên ở tập thể trong các dãy nhà 5 tầng của khu Thanh Xuân Bắc, tôi thấy bà tôi buồn lắm. Vẫn thường đi về nơi cũ, thăm những người bạn chưa dọn đi. Lúc ấy Bà tôi đã già rồi, và có một lần bị tai nạn gẫy chân. Điều đáng kinh ngạc là dù sống đau yếu, với một chiếc chân bó bột, và sau đó không phục hồi kịp chức năng, Bà tôi sống rất tươi vui lạc quan… Rất thích uống trà đặc, thích nghe cải lương, thi thoảng hát những bài hát thời trẻ và chào hỏi bất kỳ ai Bà gặp. Ngay khi khỏi, Bà tôi đã làm một việc anh hùng: bán nước chè chén ngay nơi cửa trường Đại học Tổng hợp. Trong ấy, có người con trai cả của Bà là giáo sư.
Rõ là vì Bà tôi yêu lao động. Không thể dừng dù chỉ một ngày. Tôi không quên được hình ảnh Bà tôi khập khiễng, ngày ngày bê giỏ hàng ra cổng. Chẳng có gì tả được cảm giác khi nhìn thấy hình ảnh ấy. Nhưng sau đó, Bà tôi bị cấm không cho làm cái công việc ấy nữa. Nghe nói vì làm ảnh thưởng thanh danh của trường và giáo viên(!?). Tôi nghe lỏm thôi, chứ cũng không biết đích xác. Lúc đó, tôi không sao lý giải được vì sao một việc lương thiện, và cũng không ai làm giàu bằng việc đó được, lại bị cấm(?). Thanh danh và uy tín là gì mà không được bán hàng, v.v.. Hàng trăm câu hỏi, chẳng biết đường nào mà lần. Chỉ biết là Bà không được bán nữa.
Rồi Bà tôi bị tai nạn gẫy chân lần nữa, và lần này đã ngoài 80 tuổi, phải nằm gần như bất động rất lâu… Tinh thần Bà vẫn lạc quan, không hề nhầm lẫn. Vẫn luôn vui vẻ với ấm trà, với những câu cải lương, vọng cổ và những bài hát thời son trẻ.
*
* *
Tôi được kể rằng, trước ngày mất, Bà tôi rất vui vẻ đòi tắm rửa sạch sẽ, như thể biết trước điều gì sẽ tới. Bà mặc quần áo rất đẹp, hỏi thăm mọi người, và vẫn hát suốt đêm những bài hát thời trẻ, những bài mà không một ai còn nhớ vì đã gần cả thế kỷ trước đây, của một vùng làng quê nghèo Quảng Ngãi… Sau đó chừng 15 phút...
Bà qua đời ngay giữa trận rét lịch sử đầu năm 2008 này ở Miền Bắc, trận rét kéo dài liên tục 50 ngày.
Khóc để tạ ơn Bà kính yêu!