Các "kiến tạo địa chất" quan trọng nhất của lục địa các ngân hàng thương mại vừa rồi xảy ra như thế nào. Cái gì đang xô đẩy các lục địa ngân hàng trôi dạt?
Không phải lúc nào chúng ta cũng có dịp quan sát những vận động có tính xu hướng, ngắn hay dài hạn, của hệ thống ngân hàng thương mại. Nhưng đó lại là việc nên làm, thậm chí làm thường xuyên. Nền kinh tế tài chính Việt Nam có đặc tính cơ bản, quan trọng và khá bền vững là "bị áp đảo bởi hệ thống các ngân hàng thương mại." Điều này đã được một số nhà kinh tế nhanh chóng phát hiện ra từ đầu thập niên 1990. Tính áp đảo này thể hiện cái gọi là "vấn đề cấu trúc."
Lục địa già
Thoạt nhìn, vấn đề cấu trúc tưởng như chỉ nói tới cán cân và sự phân bố không đồng đều về độ lớn-kích thước trong khu vực tài chính của Việt Nam. Nhưng nhìn kỹ hơn thì đó lại là bức tranh về phân phối nguồn lực và hiệu suất sử dụng nguồn lực. Ở đâu nguồn lực nhiều quá thì xu hướng hiệu quả giảm khá rõ. Một cách tự nhiên, để chặn đà giảm thì một trong những xu hướng lại là "xi-phông" bớt các nguồn lực sang khu vực khác. Điều này không riêng với tài chính mà cả bất động sản, nhân sự, sức sáng tạo-ý tưởng mới, v.v..
Trong bài "Những điểm yếu của hệ thống ngân hàng" (TBKTVN 28/8/2007) tác giả Lê Hường đề cập tới cơ hội và thách thức của quá trình toàn cầu hóa với cửa ngõ WTO cho thị trường tài chính Việt Nam. Các ngân hàng thương mại của Việt Nam rõ ràng chịu áp lực lớn nhất, áp lực do "khối lượng áp đảo" của chính nó tạo ra. Thời gian 2005-2007, hoạt động kinh doanh tiền tệ - ngân hàng của Việt Nam phát triển mạnh; được xem là cao hơn so với các ngành kinh tế khác. Lợi nhuận trên vốn tự có của nhiều ngân hàng đạt 9-10%, cao hơn nhiều so với mức 1-2% của ngành công nghiệp. Nhưng thách thức lớn nhất đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam lại chính là công nghệ kinh doanh.
Điều đáng nhấn mạnh là công nghệ kinh doanh ngân hàng không nằm ở nguồn vốn, các cá nhân, hay trình độ công nghệ thông tin-quản trị như báo chí vẫn nói. Nó nằm ở văn hóa kinh doanh nội sinh. Ngày nay, việc huy động vốn của ngân hàng từ xã hội, nhất là các NHTMCP, không còn quá khó và những ngân hàng có tài sản cả tỷ USD sẽ tăng lên. Thời điểm 2007, mức vốn trung bình của một NHTMQD là 4.200 tỷ đồng. Hệ thống NHTMQD chiếm khoảng 75% thị trường huy động vốn đầu vào và trên 73% thị trường tín dụng.
Hệ số an toàn vốn bình quân của các ngân hàng thương mại Việt Nam thấp (dưới 5%), chưa đạt tỷ lệ theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước và thông lệ quốc tế (8%). Chất lượng và hiệu quả sử dụng tài sản Có thấp (dưới 1%), lại phải đối phó với rủi ro lệch kép là rủi ro kỳ hạn và rủi ro tỷ giá. Theo PGS.TS Lê Hoàng Nga, Học viện Ngân hàng, nếu trích lập đầy đủ những khoản nợ khoanh và nợ khó đòi thì vốn tự có của nhiều ngân hàng thương mại Việt Nam, nhất là ngân hàng thương mại Nhà nước, ở tình trạng âm.
Điểm hạn chế thứ hai của các ngân hàng trong nước là hệ thống dịch vụ và sản phẩm ngân hàng trong nước nghèo nàn, chất lượng chưa cao, chưa định hướng theo nhu cầu khách hàng và nặng về dịch vụ ngân hàng truyền thống. Các ngân hàng huy động vốn chủ yếu dưới dạng tiền gửi chiếm 94% tổng nguồn vốn huy động và cấp tín dụng là hoạt động chủ yếu của ngân hàng, chiếm trên 80% tổng thu nhập.
Việc cho vay chủ yếu dựa vào tài sản đảm bảo, trong khi thị trường bất động sản và thị trường hàng hóa chưa phát triển và còn nhiều biến động phức tạp; tự do hóa lãi suất có xu hướng làm cho mặt bằng lãi suất trong nước tăng lên, tạo điều kiện thu hút thêm tiết kiệm vào hệ thống ngân hàng.
Hai bất lợi là việc dỡ bỏ sự hạn chế do sự khắt khe tài sản đảm bảo đã từng được bàn bạc hơn 10 năm nay, nhưng có vẻ như rất khó. Tiếp đến là lãi suất tiền gửi tăng lên khiến chi phí vốn từ nguồn nợ ngân hàng tăng lên. Một vòng xoáy ponzi mới bắt đầu do các NHTM có xu hướng bơm tiền cho các khách hàng truyền thống và lớn! Bệnh cũ tái phát. Cấu trúc tài sản và việc cân đối nguồn vẫn là mối lo thường trực kể từ khi hệ thống ngân hàng 2-cấp ra đời tới nay. Con số 50% tổng huy động ngắn hạn được kết chuyển sang nguồn tài trợ trung hạn trở lên rất đáng suy ngẫm. Hồi năm 1998, con số này là 25-30% đã có rất nhiều ý kiến cảnh báo về độ rủi ro và mất cân đối tài chính. Hôm nay nó là 50%.
Giải pháp cạnh tranh?
Hiện nay các tất cả các tổng công ty lớn đều trong danh sách cổ đông sáng lập các ngân hàng mới, bất chấp sự lo lắng ế ẩm khiến Vietcombank, MHB, Incombank hoãn bán cổ phần lần đầu ra công chúng. Khoảng 20 hồ sơ xin thành lập ngân hàng nằm trên bàn Thống đốc Ngân hàng Trung ương vào tháng 8/2007. Cơn sốt lập ngân hàng là một làn sóng con của làn sóng lớn gồm 3 ngọn sóng thần: Chứng khoán-Bất động sản-Tín dụng. Các anh tài từ dầu khí, điện lực, công nghiệp, dệt may... đều có ưu ái việc đầu tư sáng lập các ngân hàng mới: Tập đoàn Bảo hiểm Bảo Việt, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông, Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Dệt may, Tổng công ty Sông Đà, Tổng công ty Thép, Tổng công ty Bia rượu Hà Nội...
Không chỉ muốn lập ngân hàng mới, các tổng công ty đều tìm cách trở thành cổ đông chiến lược của ngân hàng hiện hữu. Hơn 10 tổng công ty đã là đối tác chiến lược của Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank). Ngoài việc cùng BIDV, Vincom, Vinashin... nộp hồ sơ xin thành lập Ngân hàng Phát triển công nghiệp (IDB), Tổng công ty dệt may Vinatex còn góp vốn vào Ngân hàng Nam Việt, Hàng Hải, ACB, Eximbank. Đến Euro Window, một cái tên không lạ trong kinh doanh trang trí nội thất, cũng xin thành lập ngân hàng Euro Window. Euro Window vừa nhận được giấy phép chấp thuận về nguyên tắc thành lập công ty chứng khoán. Được biết, hội đồng thẩm định và cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng đã bắt đầu hoạt động vào cuối tháng 7 vừa qua. Theo một nguồn tin, hội đồng sẽ “chấm điểm” theo thang tiêu chuẩn đã đề ra, theo các tiêu chí như cổ đông, nhân sự, chiến lược hoạt động... Hồ sơ nào “vượt qua” thì “đỗ”.
Được biết ngân hàng đầu tiên nhận giấy phép trong năm nay sẽ là một cái tên lạ: Đông Dương Tín Phát. Hồ sơ Đông Dương Tín Phát được nộp lên chừng nửa năm nay và đã được chấp thuận về mặt nguyên tắc. Nằm lâu và sớm nhất ở Ngân hàng Nhà nước là hồ sơ mang tên Liên Việt, có lẽ sẽ là một trong những ứng cử viên ra đời đầu tiên. Ngân hàng Nhà nước kín tiếng.
Áp lực cạnh tranh lớn lên, và một số ngân hàng bắt đầu nhòm ngó các lĩnh vực phi truyền thống, như việc NHTMCP Phương Nam lập công ty bảo hiểm. Việc một ngân hàng lập công ty bảo hiểm hoàn toàn khác với việc thành lập các liên minh bancassurance kiểu châu Âu thời thập niên 1980-1990. Ở đây rõ ràng có chuyện thành lập và điều hành. Trường hợp vừa nêu là thỏa thuận thành lập ký ngày 22/8/2007 giữa Southern Bank, Light House, Ngân hàng Nam Á và Bệnh Viện Triều An, lập ra Bảo hiểm Phương Nam, vốn điều lệ 300 tỷ đồng, hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ.
Kiến tạo mới và sự trôi dạt
Cái lý của sự phát triển hệ thống NHTMCP là tỷ lệ sử dụng dịch vụ ngân hàng còn thấp xa so với tiềm năng của nền kinh tế. Ngay cả chuyện trả lương và phi tiền mặt hóa thì cũng chỉ cuối tháng 8/2007, việc trả lương qua tài khoản cho người làm công ăn ngân sách mới được định đoạt nhờ một quyết sách rất hợp lý của Thủ tướng, và hiệu lực là từ 1/1/2008. Ngoài ra, việc áp đảo quy mô và thương hiệu của hệ thống ngân hàng đã làm cho sự lựa chọn của người sử dụng hệ thống tài chính hầu như định đoạt nghiêng về phía có lợi cho ngân hàng.
Mặc dù vậy, không phải ngân hàng có toàn quyền năng. Việc họ phải liên tục nâng lãi suất tiền gửi nhằm tạo nguồn vốn suốt nửa đầu năm 2007 là một điển hình. Cụ thể, ở các NHTMQD lãi suất ở các kỳ hạn 3, 6, 9 và 12 tháng đều cao hơn “trần” lãi suất mà các ngân hàng thỏa thuận với nhau từ 0,03 – 0,04%/tháng; lãi suất kỳ hạn 3 tháng hiện phổ biến từ 0,6 - 0,63%/tháng, kỳ hạn 6 tháng từ 0,63 - 0,65%/tháng, kỳ hạn 9 tháng từ 0,65 - 0,68%/tháng và kỳ hạn 12 tháng từ 0,69 - 0,72%/tháng.
Với các NHTMCP, phần vượt rào vượt trội hơn ở các kỳ hạn 3, 6 và 9 tháng, cao hơn thỏa thuận từ 0,02 – 0,12%/tháng. Hiện lãi suất của khối này ở kỳ hạn 3 tháng phổ biến từ 0,68 - 0,74%/tháng, kỳ hạn 6 tháng từ 0,69 - 0,77%/tháng, kỳ hạn 9 tháng từ 0,69% - 0,78%/tháng; riêng kỳ hạn 12 tháng từ 0,69 - 0,80%/tháng, thấp hơn từ 0,02 - 0,09%/tháng. NHNN có muốn "nhắc nhở" cũng khó, vì quyết định huy động là quyết định kinh doanh của từng ngân hàng. Áp lực chỉ số giá tiêu dùng đang tăng. Quyền lợi của người gửi tiền bị ảnh hưởng. Dẫn tới, cạnh tranh huy động vốn ngày một lớn.
Trong khi đó, các NHTM tiếp tục đẩy nhanh tốc độ mở rộng mạng lưới "bán lẻ." Nếu so sánh quy mô mạng lưới, không có NHTMCP nào sánh được với các NHTMQD mà lớn nhất là Agribank với 500 phòng giao dịch và 1.500 chi nhánh toàn quốc. BIDV có 104 chi nhánh cấp I và sở giao dịch khắp nước, hàng trăm phòng giao dịch. Incombank có tổng tài sản chiếm hơn 25% thị phần trong toàn bộ hệ thống NHTM, với mạng lưới 2 sở giao dịch, 130 chi nhánh và trên 700 điểm giao dịch.
Do đó, hàng chục NHTMCP bước vào cuộc đua mở rộng quy mô theo phân khúc thị trường của mình, đi đầu phải kể đến Sacombank với 52 chi nhánh và 109 phòng giao dịch và Techcombank, 109 điểm giao dịch trải rộng trên 16 tỉnh thành cả nước; ACB với 84 chi nhánh và phòng giao dịch; Eximbank 36 điểm giao dịch và sẽ mở thêm 23 điểm giao dịch trong quý 3-4/2007; VIB 75 vào tháng 8/2007; Đông Á 80 chi nhánh và phòng giao dịch.
Nhưng liệu ngân hàng có phải là lĩnh vực dễ dàng phát đạt? Chắc chắn là không vì nền kinh tế chưa quên việc một loạt ngân hàng NHTMCP được đưa vào danh sách "quản lý đặc biệt" của NHNN cuối thập niên 1990, mà một số mãi tới gần đây mới được "bóc mác." Việc đặt yêu cầu thành lập mới với số vốn tối thiểu 1.000 tỷ VNĐ chính là dự liệu an toàn vốn. Sau 31/8/2008, vốn pháp định sẽ là 3.000 tỷ. Nhưng 20 hồ sơ xin lập mới từ các cổ đông đại gia cho thấy việc gia tăng sức ép cạnh tranh là tất yếu.
Các quá trình thay đổi đang diễn ra mạnh mẽ trong hệ thống NHTMCP và NHTMQD đang kiến tạo các vùng đất mới trong lãnh thổ tài chính của Việt Nam. Sự kiến tạo này sẽ còn tiếp tục thông qua các hoạt động: Tăng vốn, Mở rộng hệ thống chi nhánh, Mua bán-sáp nhập, Thành lập mới... Nhưng gì thì gì, việc định đoạt lãnh thổ và quyền năng của từng cá nhân NHTM sẽ được xác lập qua duy nhất một quá trình: Cạnh tranh. WTO làm quá trình kiến tạo này phong phú, và vì thế phức tạp hơn nhiều: Cạnh tranh với những tập đoàn tài chính quốc tế.
Vẫn còn rất nhiều câu hỏi về bức tranh vùng đất kinh doanh ngân hàng tới đây. Ai sẽ đoán được bức tranh này sau 5 năm WTO?
© SAGA 8/2007