|
Người gửi:
--
21/03/2007 02:50 PM
Kiểm soát vốn đầu tư nước ngoài vào TTCKVN- Nên hay không?
(
Bình chọn:
--
:
--
Số lần đọc:
9048)
Vì sao phải kiểm soát vốn?
Nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam thì phải đem ngoại tệ để đổi lấy nội tệ (VNĐ). Kết thúc quá trình kinh doanh, nhà đầu tư nước ngoài sẽ đem cả vốn lẫn lời đổi lấy ngoại tệ và mang về nước nếu muốn. Tuy nhiên vấn đề không có gì đáng nói nếu không xảy ra cùng lúc các nhà đầu tư nước ngoài (thường là các nhà đầu tư ngắn hạn) đồng loạt đổi ngoại tệ mang về nước làm cho cầu ngoại tệ tăng đột biến gây áp lực lớn lên tỷ giá. Lịch sử thế giới đã chứng kiến nhiều cuộc khủng hoảng tiền tệ bắt nguồn từ những sự việc như vậy.
Câu chuyện kiểm soát vốn ở Việt Nam bắt đầu trở nên ầm ĩ kể từ thời điểm 2/2007:
Giữa tháng 2 năm 2007, Các hãng tin nước ngoài như Bloomberg và AFP đều đồng loạt trích nguồn tin từ Ngân hàng ANZ cho rằng Việt Nam đang chuẩn bị áp dụng một loạt biện pháp quản lý dòng vốn ra - vào tương tự như Thái Lan để giảm nhiệt thị trường chứng khoán.
Tin này ngay lập tức khiến cho các nhà đầu tư lo lắng, thị trường chứng khoán Việt nam nghỉ tết mà không khí sôi sùng sục.
Ngay sau đó, trong công văn ngày 27/2 , thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định chưa thực hiện các biện pháp kiểm soát ngoại hối. Vậy là yên lòng thị trường và các nhà đầu tư không phải lo sợ thị trường sụp đổ. Phải chăng khẳng định trên có nghĩa là sẽ không kiểm soát vốn hay chỉ là tạm thời chưa kiểm soát? Tạm thời thì có nghĩa là sớm muộn gì trong tương lai cũng sẽ kiểm soát , thị trường sẽ phản ứng thế nào? Liệu có lặp lại lịch sử ngày thứ ba đen tối của TTCK Thái Lan?
Và gần đây nhất dư luận lại xôn xao về dự thảo quy chế quản lý các quỹ đầu tư nước ngoài, quy định nhà đầu tư nước ngoài muốn thành lập chi nhánh công ty quản lý quỹ tại Việt Nam phải là doanh nghiệp đã hoạt động ba năm, đồng thời đang quản lý tài sản trị giá 500 triệu USD trở lên. Dư luận phản ứng mạnh mẽ vì cho rằng hiện nay có 80% các tổ chức đầu tư nước ngoài ở Việt Nam không đáp ứng đủ yêu cầu và như thế sẽ là cản trở dòng vốn nước ngòai chảy vào kênh thị trường chứng khoán.
Qua đó có thể thấy vấn đề kiểm soát vốn đối với TTCK là một vấn đề hết sức nhạy cảm và cần được cân nhắc thận trọng.
Có lẽ không cần phải nói đến khái niệm kiểm soát vốn là gì và ý nghĩa của kiểm soát vốn đối với quốc gia. Bạn có thể xem thêm ở phần thuật ngữ.
Trong phạm vi bài viết nhỏ này tôi hi vọng sẽ cùng mọi người tìm ra hướng giải quyết thỏa đáng cho câu chuyện kiểm soát vốn ĐTNN vào TTCKVN- Nên hay không? Và nếu nên thì nên dùng những biện pháp nào để vừa đảm bảo cho đảm bảo sự lành mạnh , bền vững của nền kinh tế , vừa không cản trở sự phát triển của TTCK.
TTCKVN hiện đang tăng trưởng nhanh chóng, kéo theo làn sóng các nhà đầu tư nước ngoài, đã đẩy giá tiền tệ trong nước và mức lạm phát lên, và kèm theo đó là nỗi sợ hãi về bong bóng chứng khoán. Nếu so với những gì đang xảy ra trên thế giới , ta có thể thấy việc sẵn sàng để ứng phó với sự đảo chiều của dòng vốn của TTCKVN là một đòi hỏi bức thiết và khá nhạy cảm hiện nay.
Trước khi khẳng định nên hay không nên kiếm soát vốn ở VN , xin nhìn sang các nước láng giềng của VN một chút. Thái Lan và Malaysia . Hai bức tranh tương phản khi so sánh hiệu quả của kiểm soát vốn.
Malaysia: sự kiếm soát khôn ngoan
Trong những năm 1997-98, Malaysia cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng của khủng hoảng tài chính kinh tế, nhưng khác với một số nước Đông Á khác,Malaysia kiên quyết khước từ "liệu pháp IMF", thực thi một chế độ kiểm soát gắt gao việc chảy máu ngoại tệ - Một biện pháp mà nhiều nhà kinh tế lúc đó cho rằng sẽ làm mất lòng tin của các nhà đầu tư và hậu quả sẽ là kéo Malaysia lún sâu hơn vào khủng hoảng và suy thoái. Một Uỷ ban đặc biệt với sự chủ trì trực tiếp của Thủ tướng đã được thành lập và làm việc ngày đêm theo kiểu thời chiến để đối phó với khủng hoảng Kết quả thật bất ngờ, Malaysia vững vàng vượt qua được sóng gió không cần đến bất cứ viện trợ nào của các tổ chức tiền tệ quốc tế.
Thái Lan: sự kiểm soát ‘bồng bột”
Ngày thứ ba đen tối với chứng khoán Thái Lan
Cuối chiều 18/12, Ngân hàng Trung ương Thái Lan yêu cầu các nhà băng tư nhân phong tỏa tối thiểu 30% trị giá các tài khoản tiền gửi ngoại tệ được lập để đầu tư tài chính. Việc phong tỏa này có hiệu lực từ 19/12 và kéo dài trong vòng một năm. Nếu nhà đầu tư muốn rút trước hạn quy định, chỉ được giải ngân tối đa 2/3 khoản tiền bị giữ lại đồng thời chịu phạt 10% tổng số tiền gửi ban đầu. Các biện pháp trên đây được đưa ra nhằm chặn đà tăng giá của đồng baht so với đôla Mỹ. Tuy nhiên, ngay trong ngày đầu tiên quy định kiểm soát tiện tệ có hiệu lực, thị trường chứng khoán Thái Lan rơi vào thế hoảng loạn. Chỉ số SET mở cửa với mức thấp hơn 20% so với thứ 2 và đến cuối phiên chốt 622,14 điểm, giảm 14,8%. 622,14 điểm là mức chốt thấp nhất kể từ 29/10/2004. Mức giảm gần 15% cũng được xem là lớn nhất kể từ 1975. Cú mất điểm này khiến giá trị thị trường chứng khóan Thái Lan sụt 23 tỷ USD. Và Tác nhân chính không gì khác là cơn tháo chạy hoảng loạn của các nhà đầu tư nước ngoài
Từ đây có thể thấy, cùng là thực hiện kiểm soát vốn nhưng Malaysia lại đạt được những thành công kỳ diệu, trong khi Thái lan lại vấp phải thất bại nặng nề.
Do vậy, vấn đề kiểm soát vốn hay không là một bài toán không hề đơn giản. Và nếu kiểm soát vốn thì phải thưc hiện như thế nào cho hiệu quả cũng là một bài toán đau đầu các nhà hoạch định chính sách.
Quay trở lại Việt Nam,
Hiện nay có rất nhiều quan điểm về vấn đề nên hay không nên kiểm soát vốn, các quan điểm “đối đầu nhau” kịch liệt. Đại diện cho nhóm lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài thì lấy lý do chúng ta đã gia nhập WTO, phải theo thông lệ chung của thế giới, phải tự do hóa dòng vốn, phải để thị trường tự điều tiết, bất cứ sự can thiệp nào từ phía nhà nước cũng là không tốt. Nhóm này tiêu biểu cho quan điểm ủng hộ tự do hóa vốn. Đại diện cho quan điểm chính phủ thì cho rằng, cần thiết phải kiểm soát vốn để nhằm ổn định thị trường, đưa thị trường phát triển lành mạnh, tránh những cú sốc từ các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn ồ ạt, gây náo loạn thị trường, gây khủng hoảng nền kinh tế.
Và cho đến thời điểm này thì chính phủ Việt Nam vẫn chưa thực hiện quản lý vốn ĐTNN vào TTCKVN, tuy nhiên cá nhân tôi nghĩ môi trường kinh tế chung cũng như sức khỏe nền kinh tế của VN chưa đủ thực hiện tự do hóa vốn. Chỉ khi thị trường vốn và các định chế tài chính hội đủ những điều kiện cần thiết thì tự do hóa vốn mới mang lại những hiệu ứng tích cực. Theo IMF những điều kiện nên được cân nhắc là:
- Trình độ quản trị công ty
- Chính sách tỷ giá
- Mức độ mở cửa hội nhập
- Việc điều hành chính sách vĩ mô
- Tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
Soi VN vào từng điều kiện , xem xét mức độ nền kinh tế VN đã đáp ứng đến đâu? Liệu đã đủ chín muồi để thực hiện tự do hóa vốn chưa? Thiết nghĩ khi cơ thể chưa đủ sức đề kháng thì không nên mạo hiểm ra gió làm gì!.
Nhà kinh tế học Joseph Stiglitz- người từng đoạt giải Nobel- ,cựu Chủ tịch Hội đồng Tư vấn kinh tế dưới thời Tổng thống Bill Clinton, giám đốc Ngân hàng Thế giới (WB) trong thời gian xảy ra khủng hoảng cũng đồng tình. Ông đã trả lời báo chí: kiểm soát vốn đang hiện đang phổ biến tại những thị trường mới nổi, và trong nhiều trường hợp thì nó lại là một điều tốt.
“Cả Trung Quốc và Ấn Độ đều không cho phép vốn chảy ra ngoài mà hoàn toàn không có sự can thiệp của chính phủ. Ảnh hưởng của việc này sẽ ngăn mọi người đổ tiền vào rồi lại rút ra trong một sớm một chiều. Những biện pháp như vậy nhằm hạn chế đầu tư ngắn hạn và rút vốn khỏi Việt Nam. Việc này sẽ giúp ổn định lại dòng vốn”
 Ngay cả giám đốc một quỹ đầu tư nước ngoài- Ông Dominic Scriven - giám đốc Quĩ Dragon Capital cũng cho rằng:
“Không một quốc gia nào ở châu Á phát triển thị trường vốn mà không có biện pháp để kiểm soát dòng vốn ĐTNN. Do đó, nếu VN không đưa ra biện pháp kiểm soát sẽ là một ngoại lệ trong khu vực. Ngay những quốc gia có thị trường vốn phát triển cũng có biện pháp giám sát luồng vốn nước ngoài.
Tỉ lệ vốn đầu tư ngắn hạn của nhà ĐTNN trên TTCK VN hiện nay cao hơn tỉ lệ vốn đầu tư trung và dài hạn. Không nên khuyến khích xu hướng này vì cái mà VN cần là những đồng vốn trung và dài hạn.
VN cần có những biện pháp quản lý dòng vốn ĐTNN vào TTCK trong tầm nhìn tổng thể và dài hạn của nền kinh tế”
Như vậy có thể thấy, kiểm soát vốn ở Việt Nam là một điều cần thiết. Vấn đề còn lại là thực hiện như thế nào đề không gây sốc đối với nhà đầu tư và thị trường. Làm sao để thị trường chứng khoán tiếp tục phát triển nhanh, lành mạnh và bền vững, bảo đảm lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước là những vấn đề nên được cân nhắc cẩn thận.
Có rất nhiều gợi ý được về biện pháp kiểm soát vốn được đưa ra cho chính phủ như: tập trung cho những biện pháp mang tính kinh tế. Có thể là đánh thuế cao đối với những khoản đầu tư ngắn hạn và miễn thuế đối với những nhà đầu tư dài hạn. Bên cạnh đó cũng cần thúc đẩy để đồng tiền VN được tự do chuyển đổi, tạo điều kiện cho nhà ĐTNN rút vốn.
Tuy nhiên, cần phải nói rằng khi tiến hành kiểm sóat vốn thì chắc chắn sẽ có mặt được và cái giá phải trả cho việc kiểm soát vốn. Vấn đề là làm sao đề hạn chế tối đa tác động xấu của chính sách kiểm sóat vốn, tăng tác động tích cực đối với thị trường tài chính.
Ở đây có 2 điểm mà người làm chính sách có thể cần lưu tâm:
- TTCK là một thị trường rất nhạy cảm với thông tin vì thế chính phủ nên có sự trao đổi trước, đối thoại với thị trường, tránh đưa ra những chính sách mà chưa có sự đối thoại sẽ khiến nhà đầu tư bị sốc, tác động không hay đến thị trường.
- Khi đưa ra các chính sách nên áp dụng nguyên tắc "bất hồi tố" để quản lý. Nghĩa là chỉ tác động đến những luồng vốn nước ngoài vào thị trường từ sau thời điểm ban hành chính sách, để yên cho nguồn vốn nước ngoài hiện nay. Như vậy sẽ giảm ảnh hưởng tiêu cực của thị trường trước những biện pháp kiểm soát vốn của chính phủ.
Nói đến đây, tôi trộm nghĩ, liệu rằng việc thông tin VN sẽ kiểm soát vốn của nhà đầu tư nước ngoài vào TTCK bắt đầu từ 1/3 mà báo chí nước ngoài đưa tin -đặc biệt đó lại là các hãng tin lớn có uy tín trên thế giới-chắc chắn là có cơ sở nào đó?. Một sự cố rò rỉ ngoài ý muốn hay đây chính là một liều thuốc thử vô cùng thông minh và khôn ngoan để xem phản ứng của thị trường mà không phải trả giá như Thái Lan? Nếu thế thì quả là tuyệt vời quá và tin rằng sẽ có được những biện pháp điều hành và kiểm soát vốn hiệu quả.
Cuối cùng xin đặt ra một câu hỏi:
Nguyên nhân thực sự gây nóng TTCKVN là gì? Có phải hoàn toàn do nhà đầu tư nước ngoài hay họ cũng chỉ là một trong số rất nhiều nhân tố tạo nên sức nóng đó? Đóng góp của luồng vốn đầu tư nước ngoài cho sự nóng lên trên Thị trường chứng khoán Việt Nam đến mức nào?Trả lời được câu hỏi này sẽ giúp giải quyết cơ bản khó khắn trong việc đi tìm giải pháp kiểm soát vốn.
(Tổng hợp)
Tài liệu tham khảo
- Cần một chính sách kiểm soát vốn khả thi - Tuổi trẻ online- PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
- Kiểm soát vốn- chuyện không đáng phải ầm ĩ – Báo đầu tư chứng khóan- PGS.TS Trần Ngọc Thơ
- Việt Nam có thể kiểm soát vốn nước ngoài đổ vào chứng khoán – Vnexpress.net
- Thủ tướng: chưa kiểm soát vốn nước ngoài – Tiền phong online
- Ngày thứ 3 đen tối với chứng khoán Thái Lan- Vnexpress.net
- Vốn ngoại đổ vào chứng khoán – kiểm soát hay không?- Vneconomy
- Nóng bỏng quản lý vốn ngoại vào chứng khóan- Tuổi trẻ online
- Thị trường chứng khoán: xôn xao về dự thảo quy chế quản lý quỹ đầu tư nước ngoài – Thanhnien online
- Một đất nước dám nghĩ, dám làm- mofa.gov.vn
www.saga.vn
|